Chữa bệnh ung thư tinh hoàn

Tinh hoàn là một bộ phận trong cơ thể người đàn ông có chức năng sản xuất và dự trữ tinh trùng. Ngoài ra tinh hoàn còn có chức năng sản xuất hóc môn nam (testosterone). Tinh hoàn được một lớp da mỏng bao bọc bên ngoài gọi là bìu. Ung thư tinh hoàn xuất hiện khi những tế bào của tinh hoàn phát triển một cách không bình thường và không kiểm soát được.

Bệnh ung thư tinh hoàn phần lớn chỉ xảy ra đối với những người đàn ông da trắng và có rất ít trường hợp người châu Phi và châu Á bị mắc phải bệnh này. Bệnh này phổ biến ở những người đàn ông ở độ tuổi từ 20 đến 34 và được xem là một trong những loại bệnh ung thư có thể chữa khỏi, nếu được phát hiện sớm.
Những nguyên nhân gây ung thư tinh hoàn?

Hiện nay, y học vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác gây ra bệnh ung thư tinh hoàn, tuy nhiên có một vài trường hợp có thể gia tăng nguy cơ ung thư như là:

Những người có tinh hoàn ẩn: đây là tình trạng tình hoàn không nằm trong bìu mà nằm trong ổ bụng (thông thường ở giai đoạn bào thai hay trong 3 tháng đầu sau khi sinh, tinh hoàn của các bé trai sẽ di chuyển từ ổ bụng xuống bìu).

Những người bị hội chứng rối loạn nhiễm sắc thể giới tính (thông thường nam giới nhận 1 nhiễm sắc thể X từ người mẹ và 1 nhiễm sắc thể Y từ người cha, nhưng những người bị rối loạn nhiễm sắc thể giới tính thì lại có 1 nhiễm sắc thể Y và từ 2 nhiễm sắc thể X trở lên).
Những triệu chứng của bệnh ung thư tinh hoàn?

Sự thay đổi đáng kể về kích thước và hình dạng của hai tinh hoàn, điều này có thể gây ra đau đớn nhưng cũng có thể không.

    Cảm giác nặng ở bìu.
    Cảm thấy đau ở vùng thắt lưng, bụng và háng.

Làm sao để có thể chẩn đoán ung thư tinh hoàn?

Hầu hết các trường hợp mắc bệnh ung thư tinh hoàn đều được phát hiện thông qua kiểm tra sức khỏe tổng quát. Nếu các bác sĩ chuyên khoa yêu cầu bạn tiến hành kiểm tra tinh hoàn thì những test sau có thể xác định chính xác tình trang hiện tại của bạn:
Siêu âm tinh hoàn.

Kiểm tra các chất chỉ thị ung thư thông qua xét nghiệm máu.

Nếu các kiểm tra trên cho thấy tinh hoàn có khối u thì bước tiếp theo mà các bác sĩ sẽ làm là tiến hành sinh thiết tinh hoàn. Thông qua việc quan sát các mẫu mô lấy từ tinh hoàn, các bác sĩ sẽ xác định được khối u trong cơ thể bạn là lành tính hay ác tính và đề ra biện pháp chữa trị thích hợp. Đối với những bệnh nhân đã xác định là bị ung thư tinh hoàn thì cần phải được phẫu thuật ngay vì việc sinh thiết sẽ khiến cho các tế bào ung thư di căn rất nhanh.
Cách điều trị

    Quá trình điểu trị sẽ tùy thuộc vào tình trạng cụ thể của từng bệnh nhân, nhưng những phương pháp chính dùng để điều trị ung thư tinh hoàn gồm có:
    Cắt bỏ toàn bộ phần bị ung thư.
    Tiến hành hóa trị để tiêu diệt tận gốc các tế bào ung thư còn xót lại.
    Xạ trị nhằm làm giảm kích thước ung thư trước khi giải phẫu hay tiêu diệt những tế bào ung thư xót lại sau cuộc giải phẫu.

Những ảnh hưởng của bệnh ung thư tinh hoàn như thế nào?

Các nhà khoa học cho rằng ung thư tinh hoàn là một loại ung thư có thể chữa trị được cho dù được phát hiện sớm hay muộn; và đối với hầu hết các trường hợp phải phẫu thuật thì việc cắt bỏ ‘tinh hoàn’ hoàn toàn không ảnh hưởng đến khả năng làm chồng, vì vậy các quý ông không cần lo lắng về vấn đề này.

Sau khi cắt bỏ tinh hoàn bị ung thư, một số người đã chọn giải pháp cấy tinh hoàn giả vào trong bìu để bộ phận sinh dục ngoài trông được tự nhiên.

Không giống như các loại ung thư khác, các tế bào ung thư tinh hoàn phát triển chậm và phản ứng theo hướng tốt khi được hóa trị và xạ trị. Tuy nhiên các phương pháp này có thể gây ra tác dụng phụ và những tác dụng phụ này sẽ kéo dài trong suốt quá trình điều trị.
Read more…

Chữa bệnh ung thư thanh quản

Ung thư thanh quản chiếm khoảng 20% các loại ung thư nói chung. Trong các loại ung thư vùng đầu mặt cổ, nó được xếp thứ 2 sau ung thư vòm. Lứa tuổi thường gặp là 40- 60, chủ yếu là nam giới.

Thanh quản tham gia vào chức năng hô hấp (dẫn không khí ra vào phổi), bảo vệ đường hô hấp (tạo phản xạ ho, sặc khi có vật lạ rơi vào thanh quản, nhằm tống vật lạ ra ngoài) và phát âm. Sự phát âm được thực hiện khi luồng không khí đi qua khe thanh môn, tạo ra sự rung sóng niêm mạc, áp lực không khí ở hạ thanh môn tạo ra cường độ cho tiếng nói, dây thần kinh điều khiển các cơ làm thay đổi tần số, âm sắc tiếng nói. Tiếng nói hoàn chỉnh khi đi qua các bộ phận như họng, mũi xoang, miệng, lưỡi, môi… với những âm sắc đặc trưng cho từng cá nhân. Khi dây thanh bị thương tổn, sẽ gây khàn tiếng hoặc có khi mất hẳn tiếng.

Nguyên nhân gây ung thư thanh quản chưa được xác định rõ, yếu tố nguy cơ là hút thuốc lá nhiều (98% người bị ung thư thanh quản có hút thuốc lá), uống nhiều rượu, viêm mạn tính hoặc những bệnh tích tiền ung thư như bạch sản, sừng hóa, u nhú thanh quản.

Khàn tiếng là triệu chứng xuất hiện đầu tiên và ngày càng tăng, dùng các thuốc điều trị viêm thanh quản đều không có tác dụng. Khối u ngày càng phát triển, người bệnh mau mệt, câu nói ngắn hơn. Khi khối u to, dây thanh bị cố định, thanh môn bị hẹp thì tiếng nói trở nên khàn đặc, mất hết âm sắc, nghe khó hiểu.

Khối u lớn dần làm khẩu kính của thanh môn ngày càng hẹp, gây khó thở. Lúc đầu, khó thở chỉ xuất hiện khi gắng sức (lên cầu thang, bê vật nặng…), về sau ngày càng tăng và trở nên liên tục; thỉnh thoảng có những cơn co thắt làm bệnh nhân nghẹt thở tưởng như mình sắp chết. Nếu khi nằm nghỉ ngơi mà vẫn khó thở, bệnh nhân phải được mở khí quản.

Nuốt đau chỉ xuất hiện khi khối u đã lan ra vùng hạ họng, lúc này bệnh nhân không ăn cơm được, chỉ ăn cháo hoặc uống sữa, thậm chí phải đặt ống dạ dày để bơm thức ăn.

Có thể phát hiện bệnh bằng cách soi thanh quản gián tiếp bằng gương, sẽ thấy u sùi nhỏ như bông cải súp lơ, to bằng hạt đậu ở một bên dây thanh, hoặc có vết loét nằm trên một nền thâm nhiễm ở 2/3 trước của dây thanh. Nếu phát hiện trễ, khối u phát triển to sẽ lan sang bên dây thanh đối diện, lan xuống hạ thanh môn hoặc vùng trên thanh môn, lan vào hạ họng, miệng – thực quản. Các biện pháp chẩn đoán là soi thanh quản trực tiếp bằng ống soi, qua đó lấy một mẫu bệnh phẩm để làm xét nghiệm giải phẫu bệnh lý, giúp chẩn đoán xác định ung thư thanh quản.

Nếu không được điều trị, ung thư thanh quản sẽ gây tử vong trong vòng 1-3 năm vì bị suy kiệt hay nghẹt thở, chảy máu (do ung thư di căn vào phổi, gan, xương). Nhưng nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể khỏi hẳn hoặc sống thêm khá lâu so với những loại ung thư khác.

Có nhiều phương pháp điều trị ung thư thanh quản, tùy thuộc vào vị trí, mức độ ăn lan của ung thư và thể trạng người bệnh. Đến nay, phẫu thuật vẫn là phương pháp thường được lựa chọn, kế đến là xạ trị và hóa trị hoặc phối hợp giữa các phương pháp trên. Tuy nhiên trong tương lai, với sự tiến bộ về y học, các phương pháp xạ trị, hóa trị sẽ ngày càng hoàn thiện hơn, hoặc có những phương pháp mới thay thế dần phẫu trị và bảo tồn được chức năng của thanh quản.
Vấn đề nói và thở sau khi cắt thanh quản

Nếu bệnh nhân được phát hiện và điều trị sớm khi ung thư còn khu trú ở một thanh đai thì chỉ cần phẫu thuật cắt bỏ một phần thanh quản có liên quan với khối u. Bệnh nhân sau mổ có thể nói và thở qua đường tự nhiên, mặc dù tiếng nói không trong trẻo như trước.

Nếu phát hiện muộn, khi ung thư đã lan rộng thì buộc phải cắt bỏ toàn bộ thanh quản. Lúc này, bệnh nhân phải thở qua lỗ mở khí quản ra da ở cổ và không nói được. Tuy nhiên, có nhiều cách để giúp người bệnh có thể nói như: Tạo một khe thanh môn mới sau khi cắt bỏ thanh quản; đặt ống phát âm xuyên qua thành khí thực quản; dùng máy điện tử; luyện nói bằng giọng thực quản… Nhưng dù cách nào đi nữa, người bệnh cũng phải tập luyện mới nói trở lại được.

Cách phòng bệnh tốt nhất là loại bỏ các yếu tố nguy cơ gây ung thư như thuốc lá và rượu. Các nghiên cứu cho thấy số người hút thuốc lá bị ung thư thanh quản chiếm 12%, so với người không hút thuốc lá là 2%.

Nếu khàn tiếng kéo dài quá 2 tuần xảy ra ở người trên 40 tuổi, đã dùng những thuốc kháng viêm thông thường nhưng không khỏi thì phải đi khám tai mũi họng. Đối với những bệnh nhân bị u nhú thanh quản (papillome), bạch sản thanh quản, phải khám bệnh định kỳ để phát hiện sớm những trường hợp bệnh có thể chuyển thành ung thư.
Read more…

Chữa bệnh ung thư thực quản

Xác định bệnh: thông qua xét nghiệm thường quy và xét nghiệm sinh hóa, cùng với kết quả kiểm định chỉ số ung thư. X-quang có cản quang, CT, siêu âm, nội soi thực quản và xét nghiệm tế bào học. Theo phân kỳ TNM quốc tế, phương án điều trị được xác định bởi chuyên gia từ nhiều khoa sau khi đã hội chẩn.

    Điều trị ung thư thực quản giai đoạn đầu và giữa

      1. Thông qua động mạch chủ phun thuốc tây y và đông y trực tiếp nhắm vào thực quản, sau 1 đến 2 tuần thì tiến hành phẫu thuật.  

      2. Những bệnh nhân không phẫu thuật có thể nghĩ đến phương án xạ trị.  

      3. Nhất thiết phải phối hợp với phương pháp “dao” hạt phóng xạ để điều trị khối u.

      4. Trị liệu nhiệt nội sinh, không chỉ dùng sức nóng để gây tổn thương cho khối u, mà còn có thể nâng cao hiệu quả điều trị của những phương pháp trị liệu khác.    

      5. Trị liệu đầu đạn sinh vật, kích hoạt khả năng kháng ung thư ngay bên trong cơ thể, trị ung thư tận gốc.

      6. Trị liệu thuốc đông y: điều hòa sự cân bằng âm dương trong cơ thể, tăng cường thể chất, cải thiện thể lực, đồng thời nâng cao hiệu quả điều trị của phương pháp tây y. Với đông y, có thể sử dụng theo các cách sau:

       a. Uống thuốc đông y

       b. Bôi thuốc đông y

       c. Tiêm thuốc đông y qua huyệt đạo  

       d. Truyền thuốc qua tĩnh mạch, đạt được tác dụng chống ung thư mà không gây độc hại.

       7. Trị liệu gen siêu dẫn: sửa đổi những khiếm khuyết trong gen của tế bào ung thư hoặc phát huy tác dụng trị liệu gen. Đây là phương pháp trị liệu nhắm tận gốc đối với ung thư.

      8. Phương pháp ẩm thực: phải căn cứ vào bệnh tình để đưa ra nguyên tắc ăn uống và món ăn dùng làm thuốc tương ứng, về cơ bản giúp tiêu diệt môi trường phát triển của ung thư.    

      9. Luyện tập khí công chống ung thư, nhằm đạt được mục đích tăng cường sức khỏe, năng cao khả năng miễn dịch.          

      10.  Trị liệu tâm lý: từ khi bệnh nhân bắt đầu đến khám bệnh, các bác sĩ sẽ tiến hành ngay việc trị liệu tâm lý một cách có hệ thống, tạo cho bệnh nhân niềm tin sẽ chiến thắng ung thư . Điều này rất có lợi cho việc chữa khỏi bệnh.

      Điều trị ung thư thực quản giai đoạn cuối

      1. Trị liệu bằng phương pháp quang động lực học, tiêu diệt khối u một cách có chọn lọc. Không ảnh hưởng đến những tổ chức bình thường.

      2. Đối với những bệnh nhân không thể nuốt thức ăn xuống được, có thể dùng ống thực quản kết hợp phóng xạ. Như vậy, vừa giải quyết được vấn đề ăn uống khó khăn, lại có thể điều trị xạ trị khối u bên trong.

      3. Khi cần thiết có thể phối hợp xạ trị vùng ngực.    
Read more…

Chữa bệnh ung thư phế quản theo y học cổ truyền

Ung thư phế quản – phổi là một trong những loại ung thư khó chữa, thường bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn…
 

Những biểu hiện

Những biểu hiện ở thời kỳ đầu cần lưu ý đó là, những người trên 35 tuổi, có triệu chứng ho dai dẳng, đặc biệt là ho từng cơn không dứt, trong thời gian ngắn không tìm ra được nguyên nhân; sau khi bị cảm mạo hay viêm khí quản, chữa trị mãi mà không hết chứng ho và triệu chứng càng lúc càng trầm trọng; khạc đàm thường có dính máu, lồng ngực thỉnh thoảng đau nhức dữ dội không có chỗ cố định; từng bị bệnh lao phổi hoặc viêm khí quản mãn tính, những cơn ho có tính cách quy luật thình lình thay đổi; trước không có phát rét hay phát sốt, đột nhiên hơi thở trở nên ngắn, tức ngực, lồng ngực chứa nước; có bệnh viêm phổi không dứt hẳn, triệu chứng trở đi trở lại hoặc càng lúc càng nặng; đau thấp khớp mà không rõ nguyên nhân, cơ bắp đau nhức dữ dội không dứt, đau tuy có phát sốt nhưng triệu chứng toàn thân không rõ; những người đã hút thuốc một thời gian dài, trong gia tộc có người cũng bị bệnh ung thư, công việc hằng ngày thường xuyên tiếp xúc với chất độc hại.

Ở thời kỳ sau của bệnh, triệu chứng thường gặp là ho dữ dội, đàm có máu hoặc ho ra máu tươi, ngực đau nhói, phát sốt, thở khó, các khớp xương, cơ bắp thịt, thần kinh đau nhức…

Chữa trị theo cổ truyền
Theo lương y Hoài Vũ, ung thư phế quản – phổi là một trong những loại ung thư khó chữa, phần lớn bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn. Chỉ có khoảng 10% số bệnh nhân sống trên 5 năm. Ở phương diện y học cổ truyền, việc chữa trị dựa theo từng thể bệnh, mà có những bài thuốc dùng thích hợp. Chẳng hạn, với thể âm hư đờm nhiệt – triệu chứng lâm sàng là ho ít đờm hoặc đờm trắng dính tí máu, miệng khô, sốt buổi chiều, ra mồ hôi trộm, người gầy ốm…, thì phép trị là “dương âm nhuận phế, thanh hóa đờm nhiệt”, bài thuốc dùng gồm các vị thuốc: bắc sa sâm 16g, mạch môn 12g, thiên môn 12g, thạch hộc 12g, tang bạch bì 12g, sinh địa 12g, huyền sâm 12g, qua lâu nhân 6g, tử uyển 12g, ngư tinh thảo 12g, bán chi liên 12g, sơn đậu căn 12g, lô căn 12g, ý dĩ 20g, tỳ bà diệp 12g, đông qua nhân 12g, a giao 8g, xuyên bối mẫu 8g, hái cáp xác 20g, sinh thạch cao 8g.

Với thể khí âm hư – triệu chứng lâm sàng gồm ho nhỏ tiếng ít đờm, đờm lỏng nhớt, khó thở, tiếng nói nhỏ, mệt mỏi, ăn ít, gầy ốm, miệng khô, chất lưỡi đỏ…, thì phép trị là “ích khí dưỡng âm, thanh nhiệt hóa đàm”, bài thuốc dùng gồm: đảng sâm 20g, mạch môn 12g, hoài sơn 12g, thục địa 8g, xuyên bối mẫu 8g, ngũ vị 6g. Với thể huyết ứ trệ – triệu chứng lâm sàng gồm khó thở, sườn ngực đau tức, váng đầu, ho đàm khó khạc, đàm có dính máu, dãn tĩnh mạch thành ngực hoặc tràn dịch màng phổi, môi lưỡi tím đỏ, rêu lưỡi mỏng vàng…, phép trị là “hành khí hoạt huyết, hóa đàm, nhuyễn kiên”, bài thuốc dùng trong trường hợp này gồm: hạ khô thảo 20g, hải tảo 20g, bối mẫu 12g, xích nhược 12g, đương quy 12g, xuyên sơn giáp 12g, hồng hoa 6g, qua lâu 6g.

Cách sắc (nấu) những bài thuốc trên như sau: nước đầu cho các vị thuốc cùng 3 chén nước (độ 750 ml) nấu còn 250 ml; nước hai cũng cho nước vào nấu như trên và để còn 250 ml; hòa hai nước lại, chia làm 3 lần dùng trong ngày.
Read more…

Chữa bệnh ung thư bạch cầu

Điều trị

Bệnh cần được các bác sĩ chuyên môn nhiều ngành như huyết học, u bướu hóa xạ trị chăm sóc, điều trị. Mục đích điều trị là đưa bệnh tới tình trạng không còn triệu chứng, bệnh nhân bình phục với tế bào máu và tủy xương lành mạnh như trước. Phương thức điều trị tùy thuộc vào một số yếu tố như loại ung thư, giai đoạn bệnh, tuổi tác và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

Các phương pháp trị liệu gồm có:

a. Hóa trị (Chemotherapy)

Hóa trị dùng các dược phẩm khác nhau bằng cách uống, chích vào tĩnh mạch hoặc vào tủy xương để tiêu diệt tế bào ung thư. Hóa trị rất công hiệu và được áp dụng cho đa số bệnh nhân. Có nhiều loại thuốc và người bệnh có thể chỉ uống một thứ hoặc phối hợp hai ba thuốc.

Tuy nhiên, hóa trị cũng ảnh hưởng tới các tế bào bình thường và gây ra một số tác dụng phụ như rụng tóc, lở môi miệng, nôn mửa, tiêu chẩy, ăn mất ngon, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn sinh sản.

b. Xạ trị (Radiation therapy)

Với một máy phát xạ lớn, các tia phóng xạ được đưa vào các bộ phận có nhiều bạch cầu ung thư tụ tập, như lá lách, não bộ để tiêu diệt chúng. Tác dụng phụ gồm có: mệt mỏi, viêm đau nơi da nhận tia xạ.

c. Sinh trị liệu (Biological Therapy)

Còn gọi là miễn dịch trị liệu, sinh trị liệu sử dụng kháng thể để hủy hoại tế bào ung thư. Kháng thể là những chất đạm đặc biệt được cơ thể sản xuất khi có một vật lạ xâm nhập. Kháng thể này sẽ phát hiện và tiêu diệt các vật lạ đó khi chúng trở lại cơ thể.

Sinh trị liệu được thực hiện qua hai phương thức:

1. Gây miễn dịch để kích thích, huấn luyện hệ miễn dịch nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư
2. Cho bệnh nhân dùng các kháng thể đặc biệt được sản xuất trong phòng thí nghiệm để trị ung thư.

d. Ghép tế bào gốc (Stem Cell Transplant)

Ghép tủy là lấy tủy xương (thường là ở xương hông) có tế bào gốc của một người cho khỏe mạnh rồi đưa vào người bệnh với mục đích tái tạo tế bào máu và hệ thống miễn dịch. Tế bào gốc từ máu, cuống rốn thai nhi và nhau thai cũng được dùng để điều trị một vài loại ung thư máu.

Trong bệnh ung thư bạch cầu, tế bào gốc của tủy trở thành bệnh hoạn, sản xuất ra quá nhiều bạch cầu non yếu nhưng độc ác, gây trở ngại cho sự tăng sinh của tế bào bình thường ở máu.

Ghép tủy không hoàn toàn bảo đảm tránh được sự tái phát của ung thư nhưng có thể tăng khả năng trị bệnh và kéo dài đời sống người bệnh.
Read more…

Chữa bệnh ung thư amidan

Ung thư amiđan phát triển trong một phần của họng chỉ ngày sau miệng, được gọi là khẩu – hầu.

 

Nó bao gồm:

    Mặt sau của gốc lưỡi
    Phần mềm phía sau gốc miệng (phần vòm miệng mềm)
    Amiđan và 2 mào của mô phái trước và sau amiđan
    Thành sau của họng

Nguy cơ rủi ro chính gia tăng ung thư dạng này là do hút thuốc và thường xuyên  uống quá nhiều rượu. Nếu bạn hút thuốc và uống rượu cùng nhau, nguy cơ mắc bệnh càng tăng cao.

Bạn có thể được đề nghị 1 trong những phương pháp điều trị ung thư dưới đây

    Phẫu thuật
    Xạ trị
    Hóa trị

Bạn có thể phẫu thuật hoặc xạ trị để điều trị sớm ung thư amiđan. “Sớm” nghĩa là khi bạn có một khối u nhỏ nằm trong amiđan. Nếu khối u to hơn và chèn ép toàn bộ amiđan thì bạn có thể sẽ được yêu cầu phẫu thuật kèm theo xạ trị. Ung thư giai đoạn cuối di căn ra các cơ quan bên ngoài amiđan có thể được làm teo lại trước khi có thể phẫu thuật loại bỏ. Bạn có thể được điều trị bằng hoá trị hoặc xạ trị hoặc kết hợp cả 2 phương pháp để làm teo khối u. Phương pháp này được gọi là “Giảm giai đoạn bệnh”, Nếu khối u teo lại, sau đó bạn có thể phẫu thuật để loại bỏ nó hoàn toàn.

Ung thư giai đoạn cuối gây ra các triệu chứng như là đau đớn, chảy máu và khó nuốt. Bạn có thế điều trị bằng xạ trị hoặc hoá trị hoặc kết hợp cả hai để giúp kiểm soát các triệu chứng này.

Có các phương pháp điều trị thử nghiệm khác đang được nghiên cứu, ví dụ phương pháp quang động trị liệu (PDT). Đối với phương pháp này, bạn phải uống một loại thuốc có tác dụng tấn công tập trung vào các tế bào ung thư. Loại thuốc này sẽ vô hại cho đến khi có tia sáng toả ra trong các tế bào ung thư. Sau đó nó được “bật lên” và tiêu diệt các tế bào ung thư.

Như bạn có thể thấy, điều trị phụ thuộc vào các tế bào ung thư phát triển nhanh đến mức nào. Vì vậy, bước đầu tiên mà bác sĩ chuyên khoa của bạn sẽ làm là tìm ra:

Các tế bào ung thư phát triển trong các mô cục bộ nhanh đến mức nào

    Nó đã di căn tới gần các tuyến hạch lympho hay chưa
    Nõ đã di căn tới các khu vực khác trong cơ thể hay chưa

Đây được gọi là “giai đoạn” của ung thư. Bác sĩ của bạn sẽ có thể nói cho bạn biết nhiều hơn về phương pháp điều trị nào là tốt nhất cho bạn một khi giai đoạn bệnh của bạn đã được chỉ rõ.

Phẫu thuật

Bạn có thể được phẫu thuật để loại bỏ một phần họng nơi xuất hiện khối u. Có nhiều dạng phẫu thuật khác nhau. Một phần họng của bạn được cắt bỏ phụ thuộc vào kích cỡ chính xác của khối u. Nêu khối u nhỏ, bạn chỉ cần thực hiện phẫu thuật đơn giản bằng cách gây mê cục bộ hoặc mổ laze và không cần ở lại bệnh viện. Nhưng đối với những khối u phát triển to hơn bạn có thể sẽ phải tiến hành phẫu thuật phức tạp hơn và cần ở lại bệnh viện trong vài ngày. Đối với những ca phẫu thuật phức tạp nhất, bạn có thể phải có cắt bỏ một phần vòm miệng mềm hoặc cuống lưỡi và tái tạo lại bằng mô lấy từ phần khác trong cơ thể.

Tất cả các phương pháp điều trị đều có phản ứng phụ. Đôi khi, phẫu thuật vùng họng gây ra sưng tấy và khiến người bệnh khó thở. Nếu gặp trường hợp này bác sĩ phẫu thuật sẽ cần mở một lỗ trong khí quản, tại phần cuối cổ. Thủ thuật này được gọi là phương pháp mở thông khí quản và cho phép bạn thở bình thường cho đến khi chỗ sưng tấy xẹp đi. Đây chỉ là phương pháp tạm thời và sẽ được bỏ đi khi vết thương của bạn lành lại.

Một số phương pháp phẫu thuật ở họng có thể ảnh hưởng tới giọng nói của bạn. Bạn vẫn có thể nói bình thường những đó thực sự là một quá trình khó khăn. Để tạo ra âm thanh, chúng ta sử dụng họng, vòm miệng, môi, mũi, miệng và lưỡi. Nếu bạn phải phẫu thuật bất cứ phần nào, giọng nói của bạn sẽ bị thay đổi. Điều này có lẽ không quá nghiêm trọng và có thể chỉ xảy ra tạm thời. Tuy nhiên đôi khi sự thay đổi là vĩnh viễn. Nếu bạn có bất cứ khó khăn gì trong việc phát âm thif chuyên gia trị liệu giọng nói sẽ giúp bạn kiểm soát vấn đề này.

Xạ trị

Bạn có thể điều trị bằng xạ trị

Điều trị đơn thuần bằng xạ trị đối với u amiđan dạng nhỏ
Trước hoặc sau phẫu thuật đối với u dạng lớn
Để giúp giảm các triệu chứng của ung thư amiđan giai đoạn cuối
Cả hai phương pháp xạ trị bên ngoài và xạ trị bên trong (Liệu pháp tia xạ để gần) đều được sử dụng để điều trị ung thư amiđan. Bạn luôn sử dụng xạ trị bên ngoài để điều trị một ngày 1 lần trong vài tuần. Liệu pháp tia xạ để gần thường được sử dụng để điều trị những khối u nhỏ. Bạn có thể dùng phương pháp này nếu ung thư tái phát sau khi điều trị bằng xạ trị tia bên ngoài.

Hóa trị

Hoá trị sử dụng các loại dược phẩm chống ung thư (‘Độc hại tế bào’) để phá huỷ ung thư. Hoá trị không phải là phương pháp điều trị luôn được lựa chọn đối với ung thư amiđan. Tuy nhiên nghiên cứu gần đây cho rằng việc kết hợp giữa hoá trị và xạ trị có thể cho kết quả hữu hiệu như với phẫu thuật đối với những khôi u lớn ở vùng đầu và cổ bao gồm cả ung thư amiđan.
Nếu bạn bị ung thư amiđan có thể bạn sẽ được điều trị bằng hoá trị trước khi phẫu thuật để làm teo nhỏ khối u. Phương pháp này được gọi là phương pháp điều trị bổ trợ mới. Phụ thuộc vào việc khối u đáp ứng với hoá trị ra sao mà việc điều trị này thậm chí cần một cuộc phẫu thuật nhỏ hơn. Khi khôi u được làm teo trước khi phẫu thuật thì được gọi là “Giảm giai đoạn bệnh”. Các loại thuốc thường được sử dụng để điều trị ung thư amiđan là:
- 5-flurouracil (5-FU) và
- Cisplatin
Người ta nhận thấy rằng 2 loại thuốc này sẽ hữu hiệu hơn trong việc làm teo khối u khi sử dụng cùng nhau hơn là điều trị bằng từng loại đơn lẻ. Cũng có các loại thuốc hoá trị khác và các loại kết hợp khác nhau được kiểm nghiệm tuy nhiên cho đến nay chưa có loại nào cho kết quả tốt hơn cisplatin và 5FU
Read more…

Chữa bệnh ung thư tụy tạng



Nếu được phát hiện và điều trị sớm thì hầu hết các bệnh ung thư đều có thể chữa được.
Việc chữa  trị ung thư tuy tạng tùy thuộc vào giai đoạn phát triển và vị trí cũa khối u cũng như tuổi tác, sức khỏe tống quát và sự lựa chọn cũa bệnh nhân. Muc tiêu chữa trị đầu tiên là loại bỏ ung thư nểu có thể. Nếu không đươc, thì bác sĩ sẽ chú tâm vào việc ngăn chặn không cho bệnh tăng trưởng hay gây hại thêm. Khi ung thư tụy tạng đã phát  triển nhiều và trị liệu không còn đem lại  lơí ich thì bác sĩ sẽ tìm cách làm nhẹ bớt các triệu chứng đễ giúp bệnh nhân được dễ chịu phần nào.
Giải phẫu
Khi ung thư vẫn còn giới hạn ở tuỵ tạng thì giải phẫu có thể là một lựa chọn. Có hai loại giải phẫu:

    Giải phẫu khối u  ở phần đẩu tụy tạng với thủ thuật Whipple.(pancreatoduodenectomy). Bác  sĩ cắt phần đầu cũa tụy tạng, một phần ruột non (duodenum), túi mật và một phẩn ống mật. Một phẩn dạ dày cũng có thể bị cắt. Bác sĩ sau đó sẽ nối các phần còn lại của tuỵ tạng, dạ dày và ruột để giúp cho sự tiêu hóa

Thủ thuật Whipple có thể gây rủi ro nhiễm khuẩn và băng huyết. Sau giải phẫu,  bênh nhân có thễ buồn nôn hay ói mửa. Thời gian hồi phục kéo dài (10 ngày nằm viện và nhiểu tuẩn lễ phục hồi tại nhà)

    Giải phẫu khối u ở đuôi tụy tạng và thân tụy tạng. Thủ thuật gọi là diatt pancreatectomy. Bác sĩ có thể cắt luôn cả lá lách. Giải phẫu có rủi ro gây nhiễm  khuẩn và băng huyết.

Nghiên cứu cho thấy là giải phẫu ung thư tụy tạng gây ít biến chứng nhất khi bác sĩ giải phẫu có kinh nghiệm.
Chiếu xạ
Những chùm tia bức xạ cao năng được dùng để hủy diệt các tế bào ung thư. Bệnh nhân có thể được chiếu xạ trước hoặc sau giải phẫu, nhiểu khi phối hợp với hóa trị liệu nếu giải phẫu không thể thực hiện được
Nguồn chiếu xạ có thể là một máy ở bên ngoài cơ thể (external beam radiation) hay đặt bên trong cơ thể ngay gần khối u (brachytherapy). Xạ trị liệu cũng có thể được dùng đồng thời với giải phẫu (intraoperative radiation)
Hoá trị liệu
Thuốc diệt tế bào ung thư được chích vào tĩnh mạch hoặc cho bệnh nhân uống. Bác sĩ có thể dùng một thứ  thuốc hoặc hỗn hợp nhiều thứ thuốc
Hoá trị liệu có thể được dùng phối hợp với chiếu xạ.trong trường hợp ung thư đã lây lan sang các bộ phận gẩn tụy tạng nhưng chưa lan ra xa., hoặc sau khì giải phẫu đễ ngăn ngừa bệnh tái phát
Đối với những bệnh nhận mà bệnh đã ỡ giai đoạn cuối thì hóa trị liệu có thễ được phối hợp với trị liệu chuẩn đích
Trị liệu chuẩn đích (targeted therapy)
Trị liệu chuẩn đích nhắm tấn công các dị biến bên trong các tế bào ung thư. Thuốc erbotinib (Tarceva) ức chế các hóa chất phát tín hiệu tăng trưởng và nhân phân tới các tế bào ung thư . Thuốc Erbotinib thường được phối hợp với hóa trị liệu để trị ung thư đã ở giai đoan tiến triễn (advance stage).
Read more…

Chữa bệnh ung thư tủy sống

Bệnh ung thư tủy sống. Nên điều trị tại bênh viện.

Các triệu chứng thường thấy : mệt mỏi thường xuyên,nóng sốt hay bị lạnh run, hay bị nhiễm trùng, nổi hạch(thường ở hạch cổ,nách, háng bẹn ),kém ăn, mất cân, đau nhức các khớp xương,dể bị chảy máu như chảy máu dưới da (petechiae), chảy máu răng, mũi.Gan và lá lách có thể to ra,. Ở thể cấp tính, nhất là ở trẻ em ( ở trẻ em ung thư máu thuờng ở dạng cấp tính) hay di căn đến não nên có thể có những triệu chứng như nhức đầu, kinh giật, giảm thị giác. nôn, ói..

Với căn bệnh này, yếu tố quyết định cho sự thành công của điều trị là ghép tủy. Thường bệnh nhân được nhận tủy từ những người thân trong gia đình như anh chị em ruột (không ảnh hưởng tới Sức khỏe người hiến). Hầu như là thành công. Hoặc có thể tự ghép thân, là lấy của mình nhân bản lên. Rất nhiều cách điều trị mang lại thành công.

Hiện nay ở Việt nam cũng có thể phẫu thuật thành công cách ghép tế bào gốc của người bị bênh.

Nếu được điều trị bênh nhân có thể sống như người bình thường hoặc vài chục năm. Nói chung có nhiều vẫn đề xung quanh khác.

Cách chữa trị cơ bản là điều trị bằng hóa chất song cần được theo dõi và thận trọng, tốt nhất phải được điều trị tại bệnh viện đề phòng những biến chứng thần kinh trong thời gian hóa trị liệu.
Read more…

Chữa bệnh ung thư hạch bạch tuyết

Những bệnh ung thư bắt đầu từ hệ thống hạch bạch huyết được gọi là các u lympho. Có hai loại chính là: u lympho Hodgkin và u lympho không Hodgkin. Mặc dù đó là hai loại u lympho, vẫn có sự khác nhau giữa chúng, vì thế việc điều trị cũng khác nhau.

52 Điều trị bệnh ung thư hạch bạch tuyếtĐiều trị bệnh ung thư hạch bạch tuyết
1. Chuẩn bị cho việc chữa trị

Người bị bệnh Hodgkin nên tiêm phòng cúm, viêm phổi, viêm màng não.
2. Các phương thức điều trị

Xạ trị và hóa trị là hai phương thức điều trị thông thường nhất. Các phương pháp điều trị khác như cấy ghép tủy xương, ghép tế bào gốc, và trị liệu sinh học (biological therapy), điều trị trúng mục tiêu (target therapy) còn đang trong vòng thử nghiệm lâm sàng (clinical trial).
3. Xạ Trị

Dùng tia xạ để thiêu huỷ tế bào ung thư. Tùy theo giai đoạn của bệnh, có thể dùng xạ trị đơn độc hoặc kết hợp với hoá trị liệu. Tia xạ dùng điều trị bệnh Hodgkin là tia ngoài. Dùng máy chiếu tia xạ nhắm tới một bộ phận của cơ thể để điều trị tại chỗ khối u (local therapy)
4. Hóa trị

Phối hợp nhiều loại hóa chất (combination chemotherapy) để điều trị bệnh Hodgkin theo từng đợt. Đa số các hóa chất đều được dùng tiêm truyền tĩnh mạch, một vài loại thuốc dùng đường uống. Thuốc theo máu luân lưu khắp cơ thể, nên được xem là điều trị toàn thân (systemic therapy)
Read more…

Chữa bệnh ung thư trực tràng

Ung thư trực tràng là bệnh khá phổ biến hiện nay tại các nước Âu Mỹ, bệnh đứng hàng thứ nhất trong ung thư đường tiêu hoá và có tỉ lệ tử vong ngày càng cao. Ở các nước Châu Á và Châu Phi thì xuất độ ít hơn. Tại Việt Nam, trong ung thư đường tiêu hóa, ung thư trực tràng đứng hàng thứ ba sau ung thư dạ dày và ung thư đại tràng.

Ung thư trực tràng hay gặp ở lứa tuổi trung niên, cá biệt, cũng có khi gặp ở người trẻ. Dù được phẫu thuật, cuộc sống của người bệnh cũng bị tác động rất nhiều do bị ảnh hưởng đến chức năng sinh lý.
Phương pháp mổ nội soi thắt ung thư trực tràng vừa loại trừ ung thư ở mức cao nhất, vừa bảo đảm cuộc sống bình thường của người bệnh sau mổ, TS Triệu Triều Dương, Chủ nhiệm khoa Ngoại tổng hợp – Bệnh viện 108 cho biết.
TS Dương cho biết, nếu mổ bình thường, bệnh nhân phải tiểu tiện bằng một ống dẫn qua thành bụng sẽ gây khó khăn rất nhiều trong cuộc sống. Nhưng nếu được mổ thắt ung thư trực tràng bằng phương pháp nội soi, những rắc rối đó sẽ không còn tồn tại.
Tại Bệnh viện 108, phương pháp mổ nội soi cho phép áp dụng ở những bệnh nhân bị ung thư trực tràng thấp. Mổ bằng phương pháp này giúp thời gian hậu phẫu được rút ngắn, bệnh nhân ít bị đau sau mổ và không để lại sẹo to.
Trước kia, mổ ung thư trực tràng, bệnh nhân thường bị cắt cụt trực tràng. Còn hiện nay, khi phương pháp nội soi thắt ung thư trực tràng được ứng dụng, bệnh nhân có khả năng cao được bảo toàn cơ thắt môn vị, đại trực tràng.
Để phòng bệnh ung thư trực tràng, cần có chế độ ăn uống hợp lý. Phải luôn có ý thức phòng bệnh bằng cách đi khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện sớm bệnh và được điều trị tốt nhất.
Read more…

Chữa bệnh ung thư bàng quang hiệu quả

Các nhà khoa học trường Đại học Tokyo vừa nghiên cứu thành công phương pháp phân tích gen để lựa chọn loại thuốc chữa trị phù hợp nhất cho từng bệnh nhân ung thư bàng quang.


Những dấu hiệu của bệnh ung thư bàng quang

Dấu hiệu cảnh báo chung nhất của ung thư bàng quang là có Máu trong nước tiểu. Tùy thuộc vào số lượng máu có trong nước tiểu có thể đổi từ đỏ lợt đến màu đỏ thẫm .Đau trong thời gian Đi tiểu có thể cũng là dâu hiệu của ung thư bàng quang. Nhu cầu đi Tiểu nhiều hoặc ngay lập tức có thể là dấu hiệu cảnh báo nữa. Thường , những khổi u bàng quang không có triệu chứng nào.

Khi những triệu chứng xuất hiện , chúng không phải là dấu hiệu chắc chắn của ung thư .Chúng có thể do những bệnh nhiễm trùng với khối U lành tính , sỏi bàng quang , hoặc những vấn đề khác .Điều quan trọng là tới bác sỹ để xác định nguyên nhân của những triệu chứng . Bất kỳ bệnh nào cũng cần phải được chuẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt.

Phương pháp phân tích gen sẽ giúp tránh sử dụng các loại thuốc không có tác dụng và gây ra các ảnh hưởng phụ không cần thiết đối với các bệnh nhân.

Phương pháp chữa trị tiêu chuẩn hiện nay đối với các bệnh nhân ung thư bàng quang là can thiệp để làm giảm kích cỡ của khối ung thư bằng việc sử dụng kết hợp các loại thuốc chữa ung thư và sau đó, tiến hành phẫu thuật cắt bỏ khối ung thư.

Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu do Giáo sư Yusuke Nakamura đứng đầu phát hiện ra rằng việc sử dụng kết hợp 4 hoạt chất chữa trị ung thư, trong đó có Cisplatin, đã không phát huy tác dụng đối với gần 50% bệnh nhân.

Thời gian gần đây, việc sử dụng kết hợp hai hoạt chất, trong đó có Gemcitabine, để chữa trị ung thư bàng quang đã trở nên phổ biến hơn nhưng phương pháp này cũng chỉ phát huy tác dụng đối với khoảng 50% bệnh nhân.

Giáo sư Nakamura và các đồng sự trường Đại học Tokyo đã nghiên cứu 32.000 gen trong khối ung thư của khoảng 20 bệnh nhân và tìm hiểu phương pháp kết hợp 4 hoạt chất chữa trị ung thư có tác dụng đối với các bệnh này.

Họ phát hiện ra rằng có 14 gen liên quan tới tác dụng của các loại thuốc này. Bằng cách đánh số cho các chức năng của các gen này, họ có thể dự báo tác dụng của các loại thuốc này, với độ chính xác lên tới 90%.

Nhóm các nhà khoa học trên cũng nghiên cứu 12 loại gen khác và tìm cách dự báo tác dụng của việc sử dụng hỗn hợp hai hoạt chất đối với bệnh nhân ung thư bàng quang, với độ chính xác tương tự
Read more…

Phương thức mới chữa bệnh ung thư thận

Tạp chí Y học “The Lancet” của Mỹ số ra ngày 22-12 đăng kết quả một nghiên cứu của các nhà khoa học châu Âu cho biết sử dụng phương pháp điều trị hỗn hợp với hai loại thuốc Avastin (bevacizumab) và interferon, một loại protein, có thể giúp kéo dài cuộc sống của bệnh nhân ung thư thận.

Nhà khoa học Mayer Fishman thuộc Trung tâm Y tế ung thư Moffitt, ĐH South Florida, Mỹ, đánh giá với các kết quả đã đạt được có thể nói Avastin (bevacizumab) sẽ trở thành thuốc điều trị mới cho bệnh nhân ung thư thận.

Công trình nghiên cứu do các nhà khoa học thuộc Viện Gustave Roussy, Pháp, tiến hành ngẫu nhiên với 649 bệnh nhân bị ung thư thận được chia thành hai nhóm điều trị theo hai phương thức: một nhóm dùng kết hợp Avastin (bevacizumab) và interferon, còn nhóm kia được điều trị bằng interferon với thuốc giả dược.

Kết quả là với nhóm bệnh nhân được điều trị theo phương thức đầu chỉ có 114 người tử vong trong khi với nhóm thứ hai có 137 người tử vong. Ngoài ra, những bệnh nhân điều trị bằng Avastin và interferon không có biểu hiện nào của bệnh tật tiến triển trong thời gian trung bình 10 tháng, gấp đôi thời gian của bệnh nhân chỉ được điều trị bằng interferon.

Các nhà khoa học cho rằng phương thức điều trị hỗn hợp nhiều loại thuốc sẽ mang lại cơ hội sống cao hơn cho người bệnh. Bước tiếp theo các nhà khoa học sẽ nghiên cứu xem liệu sử dụng riêng rẽ Avastin có mang lại kết quả tương tự như sử dụng hỗn hợp Avastin - interferon hay không.
Read more…

Chữa bệnh ung thư miệng

Thuốc lá, trầu và rượu là các yếu tố quan trọng nhất gây ra căn bệnh này, nhất là khi chúng được kết hợp với nhau. Việc uống rượu làm tăng gấp 2-3 lần nguy cơ ung thư miệng, trong khi vừa hút thuốc vừa uống rượu làm nguy cơ này tăng đến 15 lần.

Trong các loại ung thư, ung thư miệng đứng hàng thứ 5 ở nam và hàng thứ 7 ở nữ về số người mắc, chiếm tỷ lệ cao ở các nước phát triển. Ở Ấn Độ, ung thư miệng chiếm 40% số ca ung thư. Riêng ở Việt Nam, theo điều tra của Trung tâm ung bướu, tỷ lệ này là 6%.

Tại các nước, ngày càng có nhiều người trẻ bị ung thư miệng. Ở những vùng có tỷ lệ cao, nhiều trường hợp bệnh xảy ra trước 35 tuổi, do lạm dụng các hình thức hút thuốc lá không khói.

Các yếu tố nguy cơ

Thuốc lá chứa chất sinh ung thư là hydrocarbon thơm đa vòng. Cau cũng có chất gây ung thư miệng là các alkaloides. Những người vừa hút thuốc vừa ăn trầu có nguy cơ ung thư miệng cao gấp nhiều lần so với người chỉ có một trong hai thói quen trên. Nguy cơ ung thư tỷ lệ thuận với thời gian và số lượng thuốc lá, trầu, rượu được tiêu thụ. Theo điều tra tại Trung tâm ung bướu, 60% bệnh nhân nam bị ung thư miệng là do thói quen hút thuốc và uống rượu.

Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng gây ung thư miệng như: nhiễm trùng vùng miệng, nhiễm nấm candida albicans, thiếu vitamin A, C, E, thiếu máu, yếu tố di truyền, tia cực tím, tình trạng suy giảm miễn dịch, chấn thương nhiễm trùng mạn tính do răng vỡ hay hàm giả, vệ sinh răng miệng kém...

Những triệu chứng nghi ngờ

Phát hiện bệnh sớm sẽ giúp việc điều trị đạt kết quả cao hơn nhiều. Sau đây là các triệu chứng cần chú ý:

- Vết loét không lành sau 2 tuần dù đã loại bỏ chất kích thích, vết loét không rõ nguyên nhân.

- Tổn thương xơ chai, cứng.

- Tổn thương dạng chồi gồ, dạng bông cải hay khối u.

- Tổn thương dính chặt vào mô bên duới.

- Ổ răng nhổ không lành.

- Răng lung lay không rõ nguyên nhân.

- Đau hoặc bị những cảm giác lạ mà không rõ nguyên nhân.

- Gặp trở ngại ở những chức năng nhai, nói, chảy nước bọt thường xuyên.

- Có mảng trắng, đỏ trong hốc miệng, trên lưỡi…

- Có hạch cổ, chạm vào thấy cứng, dính.

Để phát hiện sớm ung thư miệng, có thể tiến hành hai loại xét nghiệm. Đó là xét nghiệm xanh Toluidine hoặc phết tế bào bong. Nếu kết quả là dương tính hoặc có các triệu chứng lâm sàng kể trên, hãy đi sinh thiết ngay để có kết quả chẩn đoán chính xác hơn.

Điều trị

Ung thư miệng có thể được chữa khỏi bằng phẫu thuật và xạ trị, riêng rẽ hoặc kết hợp. Những tổn thương nhỏ thường dễ điều trị hơn và có nhiều hy vọng chữa khỏi. Chẳng hạn, đối với bệnh ung thư môi tổn thương nhỏ, chưa di căn hạch, có 85% bệnh nhân sống được trên 5 năm. Tuy nhiên, trên thực tế, đa số trường hợp được phát hiện chậm nên hiệu quả điều trị thấp, phải dùng phối hợp cả phương pháp hoá trị. Đối với những người đã mắc bệnh được 5 năm, tỷ lệ tử vong rất cao do di căn lan tràn hoặc xuất hiện ổ ung thư thứ hai ở đường hô hấp - tiêu hóa.

Cách phòng ngừa

- Bỏ hút thuốc, uống rượu và ăn trầu.

- Nếu có dùng các thức trên thì sau đó phải súc miệng kỹ càng. Không được lạm dụng nước súc miệng có cồn.

- Ăn nhiều thực phẩm chứa vitamin A, C, E. Những vitamin này có tác dụng chống oxy hoá và thải trừ các gốc tự do có khả năng gây đột biến gene, dẫn tới ung thư. Chúng có trong bữa ăn hằng ngày dưới dạng rau quả có màu đỏ, vàng, xanh. Các nguyên tố vi lượng như kẽm, selen và sắt cũng rất cần thiết.
Read more…

Chữa bệnh ung thư đường mật

- Mục đích là để giải quyết khối ung thư và hậu quả tắc nghẽn đường mật do nó gây ra.

- Nếu tình trạng bệnh nhân cho phép, việc phẫu thuật cắt bỏ khối u là phương pháp điều trị chọn lựa, có thể giúp chữa lành bệnh.
- Nếu khối u quá lớn, có thể cắt bỏ toàn bộ gan và ghép gan.
Tuy nhiên, khối ung thư đường mật thường đã lan rộng vào thời điểm được chẩn đoán.
+ Hóa trị hoặc xạ trị có thể được sử dụng sau phẫu thuật để giảm nguy cơ ung thư tái phát.
+ Tuy nhiên lợi ích của các liệu pháp này không rõ rệt lắm khi phẫu thuật đã lấy trọn được khối u, và sinh thiết ở vùng bờ cắt là âm tính.

+ Đa số các trường hợp ung thư đường mật đều đến khám ở giai đoạn quá chỉ định phẫu thuật, do đó bệnh nhân thường chỉ được điều trị bằng hóa trị liệu giảm nhẹ, có hoặc không kèm xạ trị.

+ Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, hóa trị đã được chứng minh là cải thiện chất lượng sống và kéo dài sống còn ở những bệnh nhân ung thư đường mật quá chỉ định phẫu thuật.

+ Các thuốc hóa trị thường được dùng để điều trị ung thư đường mật bao gồm 5-fluorouracil + leucovorin, gemcitabine dùng đơn độc, hay gemcitabine kết hợp với cisplatin, irinotecan, hoặc capecitabine.

+ Một thử nghiệm nhỏ cho thấy erlotinib, một chất ức chế tyrosine kinase có thể có ích đối với những bệnh nhân ung thư đường mật giai đoạn tiến triển

+ Ở những bệnh nhân không thể cắt bỏ được khối u, nội soi điều trị kèm đặt giá đỡ (stent) có thể tạm thời giúp giảm tắc nghẽn trong đường mật và giảm vàng da.

+ Liệu pháp quang động (photodynamic) bằng chiếu tia Laser nội soi kết hợp với các thuốc hóa trị kích hoạt bằng ánh sáng (light-activated chemotherapy medications) là một chọn lựa cho những bệnh nhân tắc nghẽn đường mật. Liệu pháp quang động cho thấy có cải thiện về tỉ lệ sống còn và chất lượng sống
Read more…

chữa bệnh ung thư tiền liệt tuyến

Tỉ lệ điều trị khỏi bệnh của ung thư TTL phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn phát hiện bệnh. Với những trường hợp ung thư còn ở giai đoạn khu trú, khoảng 70-85% bệnh nhân sống đến 10 năm sau khi khi được điều trị triệt để.

Các trường hợp ung thư xâm lấn ngoài vỏ bao vi thể, tỷ lệ sống sau 5 năm là 85%, sau 10 năm là 75%. Trong khi đó, với những trường hợp ung thư xâm lấn bao tuyến lan rộng, tỷ lệ sống sau 5 năm là 70%, sau  10 năm là 40%. Do đó, chẩn đoán bệnh sớm sẽ cải thiện tiên lượng sống của bệnh nhân.

Tùy theo trường hợp, bệnh nhân sẽ được chỉ định điều trị bằng một trong các phương pháp điều trị sau : phẫu thuật, điều trị nội tiết hoặc xạ trị.

Phẫu thuật:phẫu thuật cắt bỏ tất cả toàn bộ TLT tận gốc và nạo hạch chậu để lấy bướu khỏi cơ thể, áp dụng trong những trường hợp bệnh nhân đến sớm và bệnh nhân còn đủ sức chịu đựng cuộc mổ. Hiện nay, ở TP.HCM bệnh nhân có thể lựa chọn một trong hai phương pháp mổ: mổ  hở ( tức là cắt bỏ bướu thông qua một đường rạch da trên bụng) hoặc là mổ qua nội soi ổ bụng. Phương pháp mổ qua nội soi ổ bụng  hiện đại hơn, bệnh nhân không phải bị rạch da, không có vết mổ dài, ít biến chứng hơn nhưng tốn kém hơn vì phải thực hiện ở các trung tâm y tế lớn và do các bác sĩ có nhiều kinh nghiệm thực hiện.

Phương pháp cắt bỏ TLT tận gốc có thể gây ra một số biến chứng như rối loạn cương (liệt dương), tiểu không kiểm soát, hẹp cổ bàng quang và rò nước tiểu. Phẫu thuật nạo hạch chậu thì có thể để lại những biến chứng như tụ dịch bạch huyết, thuyên tắc tĩnh mạch sâu hay thuyên tắc phổi.

Xạ trị:phương pháp này được dùng để điều trị ung thư TLT khi bướu còn tại chỗ, chưa di căn hạch hoặc chưa di căn xa. Có thể dùng xạ trị cho bệnh nhân ở mọi độ tuổi, cho những trường hợp có chống chỉ định phẫu thuật vì lý do bệnh lý hoặc cho những bệnh nhân không muốn phẫu thuật. Tùy từng trường hợp cụ thể, các bác sĩ sẽ chỉ định điều trị các dạng điều trị xạ trị khác nhau. Ngoài ra, xạ trị cũng có thể dung để hỗ trợ sau phẫu thuật.

Điều trị nội tiết: Là phương pháp dùng thuốc chống lại sự hoạt động của  chất Androgen(nội tiết tố nam) và sự tăng sinh của TLT, bao gồm nội tiết tố và những chất không phải nội tiết tố. Các dạng điều trị nội tiết tố bao gồm :Cắt tinh hoàn, dùng chất kháng nội tiết tố nam, chất ức chế tổng hợp nội tiết nam. Phương pháp điều trị nội tiết được xem là tiêu chuẩn vàng cho ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn tiến triển. Khi điều trị nội tiết liên tục, các tác dụng phụ của liệu pháp sẽ cùng tăng theo nếu kéo dài thời gian điều trị.



Điều trị hóa chất: Điều trị hóa chất trong ung thư TLT  không phải là biện pháp bước đầu được các bác sĩ chuyên khoa lựa chọn vì loại ung thư này thường rất nhạy với nội tiết tố. Tuy nhiên vì tính chất không đồng nhất trong khối u nên độ nhạy của ung thư ở từng cá thể là rất khác nhau và luôn dẫn đến tình trạng kháng nội tiết nhưng đều có thể xử trí chung là phải tiếp tục điều trị với hóa chất. Mục đích của điều trị hóa chất trong ung thư TLT  kháng nội tiết là kéo dài thời gian sống của bệnh nhân, trì hoãn diễn tiến bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống (làm giảm đau nhức do ung thư di căn gây ra) .

Các phương pháp điều trị khác: Gần đây, người ta cũng có đề xuất một số phương pháp khác như đông băng (cryosurgery), đốt cao tần (HIFU), nhưng tất cả đều đang ở trong giai đoạn thí nghiệm, chưa có bằng chứng khoa học chính xác. Hiệu quả của các phương pháp này chỉ là giảm kích thước khối u một cách tạm bợ chứ không điều trị ngay vào tính chất ung thư cua bướu. Các phương pháp này hiện đang chờ đợi kết luận chính xác từ các nước phát triển trên những bệnh nhân tình nguyện.

Biện pháp phòng ngừa:

- Test phát hiện sớm + SA định kỳ để phát hiện sớm bệnh.

- Tránh ăn mỡ động vật mà thay bằng dầu ăn thực vật.

- Tránh tiếp xúc với các chất hóa học.

- Không dùng các thuốc hoocmon bừa bãi.

- Đậu nành và trà giúp bảo vệ tuyến tiền liệt.

Hai thực phẩm này có thể giúp ngăn ngừa sự phát triển ung thư vú ở phụ nữ và KTLT ở nam giới. Hiệu quả sẽ tăng hơn nếu dùng phối hợp cả trà và đậu nành.

Trên thực tế người Trung Quốc do có thói quen dùng trà và đậu nành, tỷ lệ người mắc bệnh KTLT ở Trung Quốc rất thấp.
Read more…

Chữa bệnh ung thư bằng liệu pháp tự nhiên

Ung thư không tự nhiên sinh ra, cũng không phát triển thình lình  mà là kết quả  của một sự tương tranh dai dẳng giữa hệ miển dịch của cơ thể đã bị suy yếu và quá trình tiếp xúc lâu dài với các nhân tố gây ung thư.  Do đó chống ung thư cũng phải dựa vào cơ chế đối kháng nầy.  Một mặt tăng cường hệ miển dịch và ngăn chận ung thư bằng các chất chống oxy hoá từ rau quả và ngủ cốc, mặt khác cần giảm bớt hoặc chấm dứt hẳn việc phơi nhiễm hoặc tiếp xúc với các yếu tố gây ung thư.
Tương quan chính và tà trong cuộc chiến chống ung thư trong cơ thể

Thông thường, các tế bào trong cơ thể đều có một tuổi thọ nhất định và bị chi phối bởi một quy luật chung.  Sinh ra, phát triển và hư hoại.  Khi một tế bào chết đi sẽ  được thay thế bởi một tế bào mới sinh ra.  Quá trình phát triển ổn định và có giới hạn nhằm duy trì hoạt động sống của mọi tổ chức, cơ quan trong cơ thể.  Tuy nhiên trong những trường hợp nhất định, do sức đề kháng của cơ thể suy yếu và dưới tác động lâu dài của nhân tố gây ung thư, một số tế bào phát triển bất thường, sinh sôi tràn lan, gia tăng không hạn chế trở thành tế bào ung thư, khối u ung thư.  Tuỳ theo vị trí của khối u, sự phát triển bất thường nầy có thể xâm lấn, chèn ép hoặc phá huỷ cơ cấu hoặc làm rối loạn công năng của các cơ quan.

Theo các nhà khoa học, dù chưa xác định được cụ thể nguyên nhân gây ra ung thư nhưng chúng ta đã biết được hàng loạt nhiều yếu tố khác nhau có thể dẫn đến ung thư.  Những tác nhân gây ra ung thư có thể là rượu, khói thuốc, bức xạ, ánh nắng mặt trời, đặc biệt là những thức ăn thức uống bị nhiễm hoá chất độc hại trong quá trình nuôi trồng hoặc chế biến, vận chuyển, bảo quản.  ung thư phát triển qua nhiều giai đoạn.  Giai đoạn tiềm ẩn có thể kéo dài nhiều năm trời, thậm chí 10 năm, 20 năm hay hơn nửa trước khi khối u to lớn đủ để được phát hiện.  Sự phơi nhiễm các yếu tố gây ung thư cũng không phải trong một gian đoạn ngắn .  Chẳng hạn đối với bệnh ung thư vú, một loại ung thư thường gặp ở nử giới, Bác sĩ John Muir, một chuyên gia về ung thư ở Trung Tâm Y khoa Walnut Creek, California cho rằng dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế sinh bệnh của loại ung thư nầy và “thực phẩm mà mà người bệnh ăn uống trong khoảng một năm trước khi được chẩn đoán có thể không có ý nghĩa bằng những loại thực phẩm mà họ sử dụng trong suốt 10 hay 20 năm trước đó.”   Ngoài ra, những người khoẻ mạnh đều có thể đã trải qua một đôi lần có sự phát triển rối loạn của những tế bào bất thường –tương tự như sự phát triển của tế bào ung thư- Tuy nhiên, những lúc đó sức đề kháng tự nhiên của cơ thể đã vượt thắng, khống chế và tiêu diệt chúng trước khi những tế bào nầy có điều kiện chuyển biến thành tế bào ung thư.

Những điều trên đã cho thấy ung thư không tự nhiên sinh ra, cũng không phát triển thình lình mà là kết quả của một sự tương tranh lâu dài giữa hai thế lực chánh và tà.  Chánh là hệ thống phòng vệ của cơ thể.  Tà là chỉ những tác nhân gây ra ung thư.  Trong quan hệ giữa chính khí và tà khí, Đông y cho rằng khi chính khí thắng tà khí tất sẽ rút lui và con người sẽ không còn bệnh tật.  Do đó, nếu ta có thể thông qua luyện tập dưỡng sinh, thông qua chế độ ăn uống để vừa tăng cường được chính khí lại vừa giảm bớt hoặc chấm dứt hắn việc bị phơi nhiễm tà khí thì việc bảo đảm thắng lợi trong cuộc chiến chống ung thư chỉ là một quy luật tự nhiên.
Tăng cường hệ thống phòng vệ cơ thể bằng chế độ ăn uống có nhiều chất chống oxy hoá

Trong 2 thập niên qua, các nhà khoa học đã đặc biệt quan tâm đến những hậu quả của những gốc tự do gây ra cho cơ thể và xem việc bổ sung những chất chống oxy hoá từ nguồn thực phẩm tự nhiên như là biện pháp chủ yếu để nâng cao sức miển dịch trong việc phòng chống bệnh tật bao gồm cả bệnh ung thư.
Cơ chế gây lão hoá và suy giảm hệ miển dịch của những gốc tự do

Bình thường, oxy tham gia vào quá trình chuyển hoá để tạo ra năng lượng giúp cơ thể hoạt động.  Tuy nhiên có khoảng một vài phần trăm oxy tham gia vào quá trình này đã không tạo ra năng lượng mà tạo ra các gốc tự do.  Có thể nói gốc tự do là một loại sản phẩm không hoàn hảo trong chu trình biến dưỡng bình thường của cơ thể.  Gốc tự do càng gia tăng nhiều hơn trong điều kiện ăn uống hoặc sinh hoạt trong môi trường bị ô nhiễm khói thuốc lá, bức xạ hoặc những hoá chất độc hại hoặc căng thẳng tâm lý.  Về mặt hoá học, gốc tự do là những thành phần phân tử có những nguyên tử bị thiếu mất l điện tử ở vòng ngoài cùng.  Do đó, phân tử nầy có khuynh hướng di chuyển tự do để chiếm đoạt một điện tử của một phân tử khác để tự ổn định.  Như vậy điều nguy hiểm của gốc tự do không phải là huỷ diệt tế bào mà là làm tổn thương tế bào để đến phiên tế bào bị tổn thương -một gốc tự do mới- lại oxy hoá một tế bào khác và phản ứng dây chuyền cứ tiếp tục xảy ra.  Qua cơ chế nầy, các gốc tự do đã tham gia phản ứng với các chất hửu cơ gây tổn thương màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi chất giữa tế bào với bên ngoài và nguy hiểm hơn, các gốc tự do có thể làm thay đổi cấu trúc gen của tế bào.  Do đó các gốc tự do là mầm mống quan trọng dẫn đến nhiều thứ bệnh tật khác nhau như tim mạch, parkinson, alzheimer và cả ung thư.
Rau quả có màu xanh đậm, vàng hoặc đỏ là nguồn cung cấp chất chống oxy hoá và ngăn chận ung thư quan trọng

Điều may mắn là thiên nhiên đã có sẳn một cơ chế để kềm hảm sự phảt triển của những gốc tự do.  Đó là những chất chống oxy hoá được cung cấp từ các loại rau quả và ngủ cốc trong tự nhiên.  Có hàng ngàn chất chống oxy hoá khác nhau. Chúng thuộc 2 nhóm chính, nhóm flavonoids và nhóm phytochemicals.  Những chất chống oxy hoá ngoài tác dụng trung hoà các gốc tự do bằng cách nhường một điện tử của mình cho chúng qua đó có thể cắt đứt phản ứng dây chuyền, ngăn chận tổn thương DNA do các độc chất gây ra còn có thể khống chế sự phát triển của tế bào ung thư.  Càng ngày càng có nhiều nghiên cứu về tác dụng kỳ diệu của những chất chống oxy hoá.  Nhiều sinh tố và khoáng chất là những chất chống oxy hoá.  Các chất quan trọng nhất là sinh tố A, beta caroten (một sắc tố thực vật sẽ được cơ thể chuyển hoá thành sinh tố A), sinh tố C, E, khoáng chất selenium.  Thứ đến là sinh tố B2, kẻm, đồng, magnesium, co-enzym Q10, các carotenoids lutein và lycopen.  Nhiều nghiên cứu khác nhau đã cho biết ăn rau quả nhiều có thể giúp chống lại các loại ung thư, nhất là 2 loại ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến.  Các nhà khoa học đặc biệt lưu ý đến bông cải và các loại cải bắp.  Những loại thức ăn nầy đóng vai trò quan trọng giúp ngăn ngừa ung thư vú cho những phụ nử sắp mãn kinh.  Bông cải có chứa nhiều sinh tố C, acid folic, potasium, nhiều carotenoids và chất indole-3-carbinol, một chất cần thiết cho sự chuyển hoá các hormone sinh dục.  Cải bắp có nhiều sinh tố B1, C, E, acid folic, caroten và S-methylmethionine, một chất có tác dụng kháng viêm.  Bông cải và các loại cải bắp còn có hàm lượng chất isothiocyanates, một loại phytochemical có tác dụng hoạt hoá một số enzym có khả năng làm vô hiệu hoá những hoá chất gây ra ung thư.  Một báo cáo của trường đại học Illinois còn cho biết một loại isothiocyanate được tìm thấy trong các loại bắp cải và bông cải có tên là sulphoraphane có tác dụng ngăn chận sự phát triển của tế bào ung thư ở giai đoạn cuối.  Qua nghiên cứu chế độ ăn của 20.000 người, những nhà nghiên cứu thuộc viện ung thư quốc gia Mỷ ở Maryland cho biết những người ăn nhiều bông cải có thể giảm nguy cơ  ung thư tiền liệt tuyến từ 45% đến 52%.  Bông cải, cải bắp, các loại rau xanh, những loại đậu và những sản phẩm từ đậu nành còn có nhiều acid folic, một chất chống oxy hoá rất thiết yếu cho cơ thể.  Acid folic là một yếu tố quan trọng trong sự phân chia và phát triển tế bào mới, trong sự tổng hợp DNA, sản xuất enzym và sinh ra hồng cầu.  Acid cũng đặc biệt hiệu quả để chống lại các vết loét trong giai đoạn tiền ung thư.  Về tầm quan trọng của acid folic trong việc chống ung thư, Tiến sĩ Judith Christman, trường Đại học Nebraska cho biết “Khi thức ăn thiếu acid folic, cơ cấu DNA của tế bào sẽ bị phá vở.  Lúc đó, các tế bào sẽ phát triển trên cơ sở những thông tin sai lầm của cấu trúc mới nên ung thư  xảy ra.”

Nhiều loại rau qủa khác cũng có tác dụng ngăn chận sự phát triển của các loại ung thư ruột già, ung thư vòm họng,  ung thư phổi hoặc bao tử. Nhiều nghiên cứu đã đưa đến những kết quả giống nhau về những loại rau quả, củ có lá màu xanh đậm, màu vàng hoặc màu đỏ như cà chua, bông cải, cà rốt, sơ ri, gấc , bí đỏ, dưa hấu, khoai lang …Những loại rau quả nầy đều có khả năng làm giảm nguy cơ các loại ung thư.  Riêng trong quả gấc, những nghiên cứu của công ty  San Eigen FFI, một công ty phẩm màu hàng đầu của Nhật bản đã cho biết ngoài hàm lượng rất cao chất caroten, gấc còn có tỷ lệ chất lycopen cao gấp 10 lần so với rau quả thông thường.  Lycopen có trong cà chua, dưa hấu, dưa hồng, là hợp chất có tác dụng kềm hảm sự lan toả của tế bào ung thư.

Những nhà khoa học trường Đại học Ohio, Mỷ còn đặc biệt lưu ý đến những hợp chất tạo màu sắc sậm trong rau quả.  Những thí nghiệm trên chuột và người đều cho thấy chất tạo màu sẫm  có hợp chất anthocyanin trong các loại rau màu đỏ, màu tía và màu xanh có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.  Chẳng hạn, chất anthocyanin trong cà rốt và củ cải, quả dâu tây có thể làm giảm sự phát triển của tế bào ung thư từ 50 đến 80%.

Ngoài ra, tập quán uống trà cũng có ảnh hưởng tốt đến việc phòng chống ung thư.  Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Weisburger, cả trà xanh và trà đen đều có hàm lượng cao những chất phytochemicals là  những chất chống oxy hoá có khả năng hoá giải những gốc tự do và ngăn chận tổn thương tế bào do khói thuốc lá hoặc những độc chất hoá học.  Mới đây, một thí nghiệm khoa học tại trường Đại học Arizona, Mỷ do Tiến sĩ Sherry Chow chủ trì cũng cho thấy trà xanh có nhiều hoạt chất epigallocatechin gallate, một chất chống oxy hoá.  Những người uống từ 8 đến 16 tách trà xanh mỗi ngày có thể bổ sung một lượng chất epigallocatechin gallate đủ để làm gia tăng đến 80% loại enzym GST, một enzym có tính năng giải độc và chống ung thư.  GST có khả năng biến đổi những phân tử gây ung thư thành những phân tử trơ không ảnh hưởng đến chất liệu cấu tạo di truyền DNA.  Người ta cho rằng những dân tộc châu Á như Trung quốc, Nhật bản có tỷ lệ tim mạch và ung thư thấp hơn so với người Âu Mỷ một phần có thể là nhờ vào tập quán hay uống trà.

Vậy liệu ăn bao nhiêu thì đủ. Theo khuyến cáo của các chuyên viên dinh dưỡng Liên Hiệp Quốc, mỗi người nên ăn khoảng 400g rau quả mỗi ngày. Ngoài ra, điều cần lưu ý là giá trị của  các loại rau quả khác nhau không chỉ ở chủng loại mà còn ở  cách trồng trọt, chăm bón và cả qúa trình chế biến .  Một nghiên cứu kéo dài 10 năm của các nhà khoa học trường Đại học California, Mỷ đã cho biết cà chua được chăm bón bằng phân hửu cơ theo lối truyền thống  có hàm lượng hợp chất flavonoids, một chất chống oxy hoá, cao gấp 2 lần so với cách trồng trọt  thông thường hiện nay. (Cách trồng  hiện nay thường xử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu rầy hoặc hoá chất kích thích tăng trưởng)  Ngoài ra, Hội ung thư quốc gia Mỷ cũng nghiên cứu thấy  những người dùng các loại thực phẩm tự nhiên có chứa các sinh tố  B6, B12 và Folate sẽ giảm nguy cơ ung thư tuỵ tương ứng là 81%, 73% và 52%.  Ngược lại những người dùng các viên sinh tố tổng hợp  có các sinh tố trên chẳng những không giảm mà còn tăng nguy cơ ung thư tuỵ lên đến 139%.  Những kết quả nầy cũng phù hợp với những khuyến cáo cách đây trên 40 năm của Giáo sư Oshawa khi ông đề ra Macrobiotics, một phương pháp chữa bệnh  dưỡng sinh bằng cách ăn các loại rau quả và ngủ cốc thô không có sự hổ trợ của hoá chất. Như vậy, cùng một loại rau quả hoặc ngủ cốc, cùng một loại thổ nhưởng, nhưng kết quả có thể khác nhau, hoặc có lợi hoặc có hại cho sức khoẻ tuỳ theo quá trình chăm bón, bảo quản, vận chuyển có qua xử lý bằng các loại hoá chất hay không.
Nguồn năng lượng chánh phòng chống ung thư đến từ ngủ cốc và các loại hạt toàn phần

Ngủ cốc thô hay còn gọi là ngủ cốc toàn phần là những loại ngủ cốc còn nguyên phần mài và lớp vỏ ngoài như gạo lức, lúa mạch, bắp nguyên hạt, bánh mì đen. Ngủ cốc thô nên được dùng để thay thế dần những loại gạo trắng hoặc thực phẩm tinh lọc như bún, mì, phở, hủ tiếu, các loại bánh.  Ngủ cốc thô là nguồn cung cấp năng lượng ở dạng carbohydrate phức hợp bao gồm nhiều chất xơ, các sinh tố nhóm B, khoáng chất và nhiều nguyên tố vi lượng  cần thiết cho sức khoẻ.  Đối với tính năng chống ung thư, những nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc trường Đại học London cho biết chế độ ăn nhiều các loại đậu và ngủ cốc thô có giá trị chống ung thư là do những thức ăn nầy chứa nhiều hợp chất Inositol Pentakisphosphate có tính năng ức chế được enzym phospho inositide 3-kinase vốn thúc đẩy sự phát triển các khối u ung thư.  Chất xơ có nhiều trong hạt và ngủ cốc toàn phần cũng có giá trị đặc biệt.  Chất xơ không bị hoà tan, không được hấp thu , góp phần tạo ra chất bả có tác dụng kích thích nhu động ruột , thúc đẩy nhanh sự lưu thông trong ruột già, chống táo bón, làm giảm thời gian tiếp xúc của các chất gây ung thư với niêm mạc ruột, chất xơ còn có thể kết dính những chất độc hại để bài tiết theo phân ra ngoài.  Do đó chất xơ cũng góp phần quan trọng trong việc phòng chống ung thư.

Đối với nguồn chất đạm, các nghiên cứu về dinh dưỡng khuyên nên dùng các loại đậu như đậu đen, đậu xanh, đậu đỏ, đậu Hoà lan, đặc biệt là đậu nành.  Đậu toàn phần là nguồn thực phẩm giàu chất đạm dễ chuyển hoá lại chứa nhiều chất xơ, nhiều sinh tố nhóm B, khoáng chất và những chất chống oxy hoá isoflovonoids góp phần chống lại các bệnh ung thư.

Ngoài ra, thực đơn phòng chống ung thư còn xử dụng một số loại hạt và quả hạch như quả óc chó , hạt lanh, hạt hạnh nhân, hạt dẻ, hạt mè, hạt bí rợ, hạt hướng dương.  Những loại hạt nầy là một nguồn cung cấp năng lượng dưới dạng acid béo hửu ích.  Trong nhiều loại hạt nầy có chứa  oestrogen thực vật thường gọi là lignan có tác dụng thu nhỏ khối u ung thư.  Một báo cáo tại cuộc hội thảo về ung thư vú vào tháng 12/2000 tại San Antonio, Mỷ đã cho biết các bệnh nhân ung thư vú dùng 25g hạt lanh mỗi ngày trong khỏang 38 ngày  đã có tác dụng làm  thu nhỏ khối u ung thư rõ rệt tương tự như những người đã dùng thuốc tamoxifen.  Ngoài oestrogen thực vật, các loại hạt nhiều chất béo còn cung cấp chất xơ, nhiều chất chống oxy hoá như selenium, magnesium, sinh tố E và acid béo omega 3 có lợi cho hoạt động của tim mạch và hệ thần kinh.  Cần dùng nhiều loại hạt cũng như nhiều loại đậu và rau quả, củ khác nhau nhằm tạo sự đa dạng sinh học để đáp ứng đủ những nhóm chất cần thiết cho nhu cầu biến dưỡng của cơ thể.  Liều các loại hạt và quả hạch được đề nghị là khoảng 25g đến 30g mỗi ngày.  Với chế độ dinh dưỡng lành mạnh, không dùng thịt cá, các nguồn thực phẩm chủ yếu được khuyến cáo ở tỷ lệ 50% ngủ cốc, 20% đậu, phần còn lại là rau quả, củ.
Giảm bớt hoặc chấm dứt hẳn việc tiếp xúc với các yểu tố gây ung thư hoặc làm suy giảm hệ miển dịch

Việc tăng cường sức phòng vệ cơ thể thông qua những loại thực phẩm có nhiều chất chống oxy hoá chỉ có ý nghĩa thiết thực khi được thực hiện song song với những biện pháp nhằm giảm việc tiếp xúc  với các yếu tố gây ung thư hoặc làm gia tăng các gốc tự do trong cơ thể.

· Không hút thuốc. Thuốc lá là nguồn cung cấp những gốc tự do lớn nhất.  Có hàng ngàn chất độc hại trong những điếu thuốc lá.  Một so sánh còn nói rằng hút một hơi thuốc còn độc hại hơn gấp 600 lần so với hít phải một hơi khói thải từ xe cộ.  Hút thuốc không những gây hại cho bản thân  mà còn làm khói thuốc lan toả có hại cho những người chung quanh.

· Không ăn các loại thực phẩm để qua đêm. Các loại thức ăn, thức uống thiu, ôi có nhiều nấm mốc có thể tiết ra độc tố aflatoxin dễ dẫn đến  ung thư.

· Tránh ăn các loại thực phẩm đã qua chế biến với các phụ gia, hoá chất, các loại đồ hộp, nước uống đóng chai.  Các hoá chất nitrits, nitrats hoặc bất cứ loại nào  khác  được xử dụng để làm cho thực phẩm lâu hư, thêm độ dai, dòn, chất tẩy trắng hoặc chất tạo màu    đều là những tác nhân dễ dẫn đến các loại ung thư miệng, ung thư thực quản, dạ dầy.  Những loại dưa muối thường có hàm lượng cao chất nitrosamin cũng được cho là có liên quan dến ung thư vòm họng, dạ dầy.

· Giảm thiểu các loại thức ăn nướng, quay, hun khói.  Các loại thức ăn trực tiếp với lửa  và những thực phẩm chiên, xào lâu hoặc với độ nóng cao trên 250o dù với mở động vật hay với dầu thực vật đều có thể sinh ra những chất độc hại dễ dẫn đến ung thư.  Khi chiên các loại thực phẩm, nên loại bỏ phần dầu thừa bằng cách dùng giấy thấm  chuyên dụng của nhà bếp để thấm qua một lần trên những thức ăn vừa chiên xong.

· Giảm bớt việc ăn các loại thịt đỏ như thịt bò, thịt ngựa,  thịt cừu.  Thống kê của tổ chức y tế thế giới cho biết bệnh tim mạch và ung thư thường tỷ lệ thuận với việc ăn nhiều các loại thịt đỏ.  Chẳng hạn ung thư ruột dễ xuất hiện ở các cộng đồng ăn thịt nhiều ở Bắc Mỷ và Tây Âu hơn là  những vùng ăn chay ở Ấn độ.  Dân Scotland ăn thịt bò nhiều hơn 20% so với người Anh cũng có tỷ lệ ung thư ruột cao nhất thế giới.  Các chuyên viên tại viên ung thư Dana Farber ở Mỷ đã tiến hành khảo sát 1009 bệnh nhân ung thư ruột già giai đoạn 3 đã trải qua điều trị phẩu thuật và hoá trị.  Kết quả cho thấy những người ăn nhiều chất béo và thịt đỏ có nguy cơ tái phát bệnh và tử vong cao gấp 3,3 lần so với những người ăn cá và rau quả.  Đối với người đang được điều trị ung thư tốt nhất là nên chấm dứt hẳn việc ăn thịt đỏ.  Nếu cần ăn chất đạm động vật, chỉ nên ăn cá và một ít thịt trắng như gà, bồ câu đã bỏ da và nội tạng.  Cá là một nguồn chất đạm dễ tiêu hoá lại chứa nhiều acid béo omega 3.  Người ta khuyên nên ăn cá ít nhất 3 lần một tuần.  Cá có tác dụng giảm trầm uất và điều hoà được lượng cholesterol trong máu.  Riêng với trứng, người ta khuyên không nên ăn nhiều.  Đối với người đang được điều trị ung thư càng không nên ăn.  Trứng là một nguồn đạm động vật có hàm lượng cholesterol rất cao.  Ăn trứng nhiều cũng có liên quan đến các bệnh ung thư ruột, ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến.

Ngòai ra, chế độ ăn uống phòng chống ung thư cũng bao gồm những khuyến cáo thông thường của một chế độ ăn uống lành mạnh như không ăn mặn, ăn ít đường, ít mở, hạn chế bia, rượu, năng vận động thân thể và duy trì một tinh thần lạc quan và tâm lý thoải mái.  Yếu tố tâm lý luôn được xem trọng trong mọi giai đoạn của bệnh tật.  Stress làm suy giảm hệ miển dịch và làm gia tăng nhu cầu chất chống oxy hoá.  Ngược lại, sự thư giãn và lạc quan giúp điều hoà nội tiết, nội tạng, gia tăng sức đề kháng và làm giảm nhu cầu chuyển hoá.  Tuy nhiên, một cơn giận có thể chưa đủ để gây ra bệnh tật.  Thỉnh thoảng ăn một bửa ăn thịnh soạn với thịt nướng hoặc vài món ăn có hoá chất phụ gia cũng khó đưa đến ung thư.  Điều quan trọng là sự hiểu biết và cảnh giác cần thiết trong chế độ ăn uống sinh hoạt thường nhật để xây dựng được một chính khí đủ mạnh để vượt thắng những tà khí bất chợt thỉnh thoảng vẫn gặp phải  trong cuộc sống.

Có trường hợp ung thư nào được chữa khỏi chỉ bằng liệu pháp tự nhiên?

Như đã nói ở phần đầu bài viết, nếu vừa  tăng cường được hệ miển dịch và chống lại sự phát triển của bệnh bằng những chất chống oxy hoá, vừa chấm dứt  việc tiếp xúc với các yếu tố gây ung thư thì việc khỏi bệnh chỉ là một quy luật tự nhiên.  Ngày nay có rất nhiều người đã tự chữa khỏi bệnh chỉ bằng cách nầy.  Tại Việt Nam, thỉnh thoảng báo chí có đưa tin và bài về những trường hợp cụ thể đã khỏi bệnh ung thư bằng “gạo lức muối mè”.  Trên bình diện quốc tế có lẻ 3 trường hợp sau đây được nhắc đến nhiều nhất.

· Giáo sư Oshawa (1893-1965) là một người Nhật, ông bị ung thư phổi và dạ dầy từ năm 17 tuổi.  Ông đã tự chữa khỏi cho mình bằng chế độ ăn uống cân bằng Âm Dương, nhiều ngủ cốc và rau quả toàn phần  không có hoá chất.  Sau đó ông đã viết sách và đi nhiều nơi trên thế giới để diển giảng và quảng bá về cách chữa bệnh nầy.  Cần nói thêm, những lý thuyết về gốc tự do và những chất chống oxy hoá chưa được đề cập đến trong thời gian nầy.

·  Bác sĩ Anthony Sattilaro, một người Mỷ, là Giám Đốc một Bệnh viện lớn Philadelphia.  Ông đã từng bị ung thư di căn đến nhiều bộ phận trong cơ thể, đã trải qua 3 lần giải phẫu.  Ông đã khỏi bệnh hoàn toàn sau 7 tháng được  hướng dẫn điều trị theo cách của ông Oshawa.

· Ian Gawler là một Bác sĩ thú y người Úc.  Ông đã bị ung thư xương và đã bị cưa chân vào năm 1975 khi ông chỉ mới 25 tuổi.  Vào cuối năm đó, ông bắt đầu một chương trình tự điều trị ung thư cho mình bằng liệu pháp chỉnh thể của phương Đông dưới hình thức ăn chay, thái độ sống tích cực, thiền và sinh hoạt nhóm.  Đến năm 1978, Gawler hoàn toàn bình phục.  Trên cơ sở những kinh nghiệm của mình, ông đã lập nên nhóm hành động hổ trợ ung thư (Cancer Support Group).  Đến năm l983, tổ chức The Gawler Foundation, một tổ chức phi chánh phủ, phi lợi nhuận được chính thức ra đời nhằm tư vấn, giúp đở cho những bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân ung thư.  Đến nay trên 50.000 người đã tham dự những chương trình huấn luyện hoặc giới thiệu về thiền, về lối sống lành mạnh để phòng bệnh hoặc chữa bệnh của tổ chức nầy.
Read more…

Mãng cầu xiêm chữa bệnh ung thư

Những nghiên cứu về nước ép từ quả mãng cầu xiêm cho thấy đây là công cụ chữa ung thư an toàn, hiệu quả và có sẵn. Nó cũng bảo vệ hệ thống miễn dịch, tránh được một số bệnh truyền nhiễm. Ngoài việc chống ung thư, nước ép mãng cầu xiêm còn là tác nhân chống vi khuẩn, nhiễm nấm, chống ký sinh trùng đường ruột và giun sán, hạ thấp huyết áp, chống trầm cảm và những rối loạn tinh thần. Những phần khác của cây cũng rất hữu dụng.

Một nghiên cứu gần đây về nước ép từ quả mãng cầu xiêm cho thấy: Loại nước ép này là 1 liệu pháp chữa ung thư an toàn và hiệu quả, hoàntoàn từ thiên nhiên nên không gây nôn ói, sụt cân và rụng tóc. Bảo vệ hệ thống miễn dịch của bạn, tránh được một số bệnh truyền nhiễm..Giúp bạn thấy mạnh khỏe hơn trong quá trình chữa ung thư hay các bệnh khác. Tăng năng lượng và giúp bạn thấy lạc quan hơn. Thông tin này có làm bạn ngạc nhiên không? Nó đến từ một công ty dược lớn nhất nước Mỹ, và trái mãng cầu xiêm đã là mục tiêu nghiên cứu của hơn 20 phòng thí nghiệm khoa học từ những năm 1970. Nước ép mãng cầu xiêm có khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư cao hơn 1000 lần so với liệu pháp hóa trị.Kết quả nghiên cứu về loại quả này được đăng trên tờ Journal of Natural Products do một trường Ðại học ở Hàn Quốc thực hiện. Nhưng tại sao đến bây giờ chúng ta mới biết điều này? Các tập đoàn lớn bỏ ra mấy chục năm nghiên cứu là vì họ muốn tổng hợp nó thành thuốc để thu lợi nhuận...

Bây giờ bạn đã biết điều này thì hãy nói với những người bị ung thư mà bạn biết, và uống loại nước ép này để bảo vệ chính bạn!

* Nước ép này có thể tìm thấy và tiêu diệt các tế bào của 12 loại ung thư.Như là ung thư ruột, ung thư vú, tuyến tiền liệt, phổi và ung thư tuyến tụy... Giúp làm chậm sự phát triển của các tế bào ung thư nhanh gấp 10 000 lần so với Adriamycin (một loại dùng trong liệu pháp hóa trị chữa ung thư).
Nước ép này không hề làm hại gì đến các tế bào khỏe mạnh cả !!!

Theo các kết quả nghiên cứu, nước ép mãng cầu xiêm có thể tầm soát và tiêu diệt có chọn lọc các tế bào ác tính. Nhưng tại sao đến bây giờ chúng ta mới biết về tác dụng “phép lạ” của mãng cầu xiêm trong phòng chống ung thư? Và đã có bao nhiêu người thiệt mạng oan uổng khi công cụ chống ung thư hiệu quả này bị các công ty dược che giấu?
Mãng cầu xiêm thuộc giống cây thân thấp có tên là Graviola ở Brazil, guanabana trong tiếng tây Ban Nha và Soursop trong tiếng Anh. Quả lớn ngọt, có nhiều hột tách ăn dễ dàng và làm nước ép có mùi vị rất ngon. Graviola là sản phẩm tự nhiên nên theo luật liên bang Mỹ không cần có bằng sáng chế. Như thế, làm sao nó có thể mang lại lợi nhuận nếu các con cá mập dược phẩm công bố khả năng trị liệu “phép lạ” của mãng cầu xiêm ra thị trường? Họ chờ cho đến khi chiết xuất được dưỡng chất chống ung thư của Graviola và bào chế được loại thuốc chống ung thư bằng thành phần nhân tạo từ chất này, xin bằng sáng chế và thu lợi. Tiếc thay khả năng chống ung thư của mãng cầu xiêm có ngay trong cây, qủa mà không cần phải chiết xuất gì cả. Vì vậy để bảo vệ khả năng thu lợi của các loại thuốc chống ung thư có sẵn, cách hay nhất là ém đi những nghiên cứu mang tính “cứu mạng” của mãng cầu xiêm, không công bố nó cho dân chúng.
May mắn, có một nhà khoa học bị lương tâm cắn rứt đã làm lộ câu chuyện về “trái cây phép lạ” cho những người có trọng trách trong y tế Mỹ. Khi viện Khoa học Y tế Mỹ nghe tin này, nó bắt đầu truy tìm những công trình nghiên cứu chống ung thư liên quan đến cây Graviola lấy từ khu rùng mưa Amazon của Brazil.

Năm 1976, Viện ung thư Quốc gia Mỹ tiến hành cuộc nghiên cứu đầu tiên về loại cây này và kết quả cho thấy, lá và thân của Graviola tiêu diệt hữu hiệu các tế bào ác tính. Nhưng nghiên cứu vẫn chỉ được lưu hành nội bộ chứ không công bố ra ngoài. Sau đó 20 nghiên cứu độc lập khác của các công ty dược hay viện nghiên cứu ung thư do chính quyền tài trợ đều cho thấy khả năng trị ung thư của Graviola. Tuy nhiên, vẫn không có ca thử nghiệm nào được tiến hành chính thức tại các bệnh viện. Chỉ đến khi nghiên cứu của Đại học Cơ đốc giáo Hàn Quốc đăng trên tạp san Journal of Natural Products khẳng định một hoá chất trong Graviola đã tiêu diệt các tế nào ung thư ruột nhanh gấp 10.000 lần hoá chất Adriamycin thường dùng trong hoá trị ung thư người ta mới vỡ lẽ. không gây nôn ói, sụt cân và rụng tóc. Điều quan trọng là không như các hoá chất điều trị ung thư khác, Graviola và nước ép mãng cầu xiêm không hề làm hại gì cho các tế bào khỏe mạnh và không có tác dụng phụ. Người bệnh thấy mạnh khỏe hơn trong quá trình chữa ung thư và các bệnh khác; năng lượng được tăng cường và sống lạc quan hơn. Một nghiên cứu tại Đại học Purdue University sau đó cũng phát hiện ra lá mãng cầu xiêm có khả năng giết các tế bào ác tính của nhiều loại ung thư khác nhau như ung thư ruột, ung thư vú, tuyến tiền liệt, phổi và tuyến tụy. 7 năm im lặng bị phá vỡ. Sự thật được phô bày. Hiện mãng cầu xiêm do thổ dân Brazil trồng hoặc sản phẩm bào chế từ nó đã có mặt nhiều ở Mỹ như một công cụ điều trị và ngăn ngừa ung thư. Một báo cáo đặc biệt có tên Beyond Chemotherapy: New Cancer Killers, Safe as Mother's Milk, do Viện Khoa học Y tế Mỹ công bố về Graviola đã xem loại cây này là “công cụ cách mạng hoá” chống ung thư.
Vì vậy, nếu nhà bạn có vườn rộng và thổ nhưỡng thích hợp, bạn nên trồng một cây mãng cầu xiêm trong sân. Nó sẽ có ích rất nhiều cho bạn và gia đình bạn.
Read more…

Chữa bệnh ung thư dương vật

Đầu tiên, bệnh nhân có những nốt hình hạt đậu ít bong, ít xâm lấn, hoặc những mảng đỏ lồi lên, đôi khi loét ở giữa. Nếu không chữa, chúng sẽ ác tính hoá một cách từ từ. Khi đã trở thành ung thư, bệnh phát triển rất nhanh.

Ung thư dương vật (UTDV) thường gặp ở người lớn tuổi (40-70 tuổi). Những viêm nhiễm ở quy đầu và bao quy đầu tạo điều kiện có bệnh phát triển. UTDV thường phát sinh trong rãnh quy đầu hoặc trên quy đầu rồi nhanh chóng khiến cho bao quy đầu không kéo lên được nữa. Ung thư di căn theo đường bạch huyết vào các hạch ở bẹn và sau bìu. Các hạch này thường sưng tấy rất to, lúc đầu còn mềm và đau (do nhiễm khuẩn), về sau vừa to vừa cứng và không di động. Hạch có thể ăn lan ra ngoài da và bị loét; có khi ăn sâu xuống dưới, vào mạch máu, gây chảy máu nhiều.

Người bệnh thường xấu hổ, không muốn đi khám nên thường đến bệnh viện khi đã có các biến chứng: tắc đường niệu đạo, nhiễm khuẩn tại khối u gây lở loét, đau đớn, nhiễm khuẩn tại vùng hạch di căn gây loét ra ngoài da hoặc chảy máu .

Chẩn đoán UTDV thường dễ nhưng cũng có khi khó khăn do hẹp bao quy đầu. Người bệnh tới khám vì thấy ở quy đầu hoặc trong rãnh quy đầu có một vết loét, hay một mầm mới nhú trên nền da cứng và chảy máu khi đụng tới. UTDV dễ bị nhầm với một số bệnh như giang mai, hạ cam... Để chẩn đoán chắc chắn, phải làm sinh thiết.

Việc điều trị UTDV sẽ cho kết quả khả quan nếu được tiến hành sớm. Khi khối u còn khu trú ở dương vật, chưa di căn, tỷ lệ sống trên 5 năm là 70-90%. Khi đã di căn, tỷ lệ trên chỉ còn 30%. Do đó, bệnh cần được chẩn đoán càng sớm càng tốt.
Read more…

Chữa bệnh ung thư não bằng chế độ dinh dưỡng đặc biệt

Các chuyên gia Đại học Boston (Mỹ) phát hiện KetoCal, một loại thực đơn chứa nhiều chất béo và ít tinh bột (thường được dùng để trị chứng động kinh ở trẻ nhỏ) có thể hạn chế sự phát triển của các khối u trong não.

U não ác tính là một trong những kiểu ung thư gây tử vong hàng đầu thế giới, với cả người lớn và trẻ em.

Sau khi ghép khối u vào não chuột và chia chúng thành 3 nhóm với chế độ ăn khác nhau, các nhà nghiên cứu nhận thấy tốc độ phát triển khối u não ở nhóm chuột được nuôi bằng KetoCal với liều lượng vừa đủ giảm từ 35-65% so với nhóm ăn nhiều tinh bột và nhóm dùng KetoCal không hạn chế.

Tỷ lệ sống sót ở nhóm này cũng cao hơn hai nhóm còn lại. Thực đơn KetoCal có thành phần cấu tạo đặc biệt giúp loại bỏ lượng gluco nuôi dưỡng tế bào ung thư, đồng thời cung cấp ketone, một hợp chất hữu cơ giúp các tế bào não khỏe mạnh phát triển.
Read more…

Chữa bệnh ung thư não và thần kinh bằng Nam y

Tất cả những bệnh nhân bị ung thư não thần kinh đều được chẩn đoán chắc chắn từ các bệnh viện khu vực hay trung ương và ở các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành trước khi tìm đến cơ sở Nam Y Đạo Pháp xin được chữa trị. Có những bệnh nhân mang đến hồ sơ đã phẫu thuật ở trong nước hay nước ngoài từ 1 đến 5 lần để cắt bỏ khối u nguyên phát hay tái phát. Thậm chí có trường hợp là đã mổ ra rồi đóng lại, đặt dẫn lưu dịch não rồi cho về nhà điều trị triệu chứng. Phần nhiều bệnh nhân đã thực hiện các biện pháp điều trị xạ trị, xạ phẫu hoặc cắt bằng dao gamma.

1. Cách tiếp cận ung thư não của Nam Y

Triệu chứng lâm sàng:

    Bệnh nhân đau nhức đầu, thường là nửa phải hoặc nửa trái
    Nặng gáy và cứng gáy
    Mắt có thể bị khối u đẩy lồi ra ngoài hốc mắt, nhìn 1 thành 2 hoặc mất hẳn thị lực
    Có thể bị chảy máu mũi thường xuyên
    Tinh thần hoảng loạn, hay gặp ác mộng, lo lắng, đôi lúc bị động kinh
    Chóng mặt, buồn nôn, bước chân bước thấp bước cao
    Thăm khám đầu thấy da dầy và mọng nước

Có những bệnh nhân nặng đến khám cơ thể ở trong trạng thái không tự đi lại được, chân tay mềm yếu, mắt lờ đờ, nửa tỉnh nửa mê, nằm cáng hoặc đi xe lăn và bắt buộc phải có người thân trong nhà đi cùng.

Không phải tất cả những người bị đau nhức nửa đầu lâu ngày là bị ung thư não nhưng tất cả những bệnh nhân bị u não thường mắc triệu chứng nhức đầu lâu ngày, uống thuốc giảm đau lâu ngày liều càng tăng lên nhưng bệnh tình lại không thuyên giảm.

2. Phân loại khối u

Theo phân loại của Tây Y có hơn 120 ung thư não khác nhau, nhưng đối với Nam Y, chúng tôi đơn giản hóa việc phân loại khối u trong não thành 3 loại khối u chính như sau:

    U mọc từ màng não giống như các polyp lành tính mọc đâm vào trong bề mặt não gây đau đầu ngày càng tăng. Khối u dạng này có thể mọc ở khắp nơi, các thùy não trái, phải, trong hốc tuyến yên, tuyến tùng.
    Khối u mọc ở các dây thần kinh, ở tủy sống làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan chức năng tương ứng. (Ví dụ, bệnh nhân Thanh Tú bị u dây thần kinh số 8, đường kính 3cm, đã được chữa khỏi).
    Khối u thân não, khi chụp phim thấy hình dạng to lớn có khi đường kính lên đến hơn 10cm. Đối với những ca này, thường là khó có thể được mổ hoặc nếu phẫu thuật mở hộp sọ thường phải đậy lại ngay vì khối u quá lớn, không thể cắt bỏ vì quá phức tạp.

3. Nguyên nhân ung thư não và thần kinh theo Nam Y Đạo Pháp

Ta biết mỗi giờ não được cung cấp khoảng 0,8l máu lên não và trong 24 giờ não tiếp nhận gần 20l máu với 20% lượng ôxy có trong 340l trong tổng số 1.700l mà phổi cung cấp cho cơ thể hàng ngày. Nếu hoạt động tuần hoàn của não bình thường thì não hoàn toàn bình thường và không bị nhức đầu. Nếu các động mạch cung cấp máu và vận chuyển ôxy lên não bị rối loạn, thường là động mạch sau gáy bị co thắt lại, vùng hố chẩm và nội não thiếu máu cục bộ, các động mạch cảnh phải tăng cường bơm máu lên não khiến da đầu bị dầy lên và mọng nước nhưng não vẫn thiếu máu nên gây ra đau nhức đầu. Nếu tình trạng này kéo dài lâu ngày, các tế bào não sẽ bị thiếu dinh dưỡng, ôxy, nước và biến đổi. Các tế bào lạ xuất hiện mà không được hệ phòng vệ cơ thể “dọn dẹp” sẽ phát triển thành ung bướu rồi ung thư. Quá trình này xảy ra đối với các trường hợp ung thư não nguyên phát và ung thư di căn lên não vì đều có lý do rối loạn cung cấp năng lượng lên não.

Các khối u có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trong não từ màng cứng vỏ não mọc vào hay ở các dây thần kinh và thân não. Triệu chứng đau nhức đầu chỉ thể hiện một phần của quá trình ung thư não do áp lực nội sọ tăng hoặc giảm tương ứng với thể tích khối u và phần não tiếp giáp với khối u. Khi khối u phát triển to lên thì càng trở nên ác tính vì não bị giới hạn trong hộp sọ nên khối u chèn ép vào não ở mức độ nào cũng đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân dễ dẫn đến tử vong.

Việc kiểm nghiệm gen của ung thư não của bệnh nhân vào thời điểm này để tìm ra các gen đã bị biến đổi trong hơn 3 tỷ ký tự AND bị khóa chức năng là một thách thức lớn đối với khoa học hiện đại. Giả thiết đặt ra đối với liệu pháp gen thay thế những gen bị lỗi mà không cải thiện được điều kiện cung cấp năng lượng lên não, đảm bảo não có đầy đủ máu, ôxy, dinh dưỡng, các yếu tố miễn dịch và phòng vệ của cơ thể hoặc quá trình này vẫn bị đình trệ như trước thì việc điều trị ấy sẽ không còn ý nghĩa. Các biện pháp phẫu thuật, xạ trị và hóa trị để loại bỏ khối u trong não cũng không thể phục hồi được cơ chế cung cấp năng lượng tự nhiên lên não của cơ thể mà chỉ làm trầm trọng thêm tình trạng rối loạn quá trình này dẫn tới kết quả điều trị không khả quan. Chính vì vậy, Nam Y đã đi theo hướng nghiên cứu khôi phục quá trình đưa máu lên não theo cách tự nhiên đưa tất cả các yếu tố cần thiết lên não để xóa bỏ các khối ung bướu trong não giống như cách loại bỏ các khối u ở các cơ quan khác trong cơ thể người bệnh. Đây là biện pháp tối ưu mà Nam Y Đạo Pháp đã thực hiện khá hiệu quả và thành công trong việc điều trị nhiều bệnh nhân bị ung thư não từ trước đến nay.

Phác đồ điều trị ung thư não của Nam Y

1. Chẩn đoán của y học hiện đại:

    Phim chụp X-quang, chụp cắt lớp CT, chụp cộng hưởng từ MRI, PET CT
    Siêu âm tổng quát
    Xét nghiệm sinh hóa, huyết học, miễn dịch, nước tiểu
    Chỉ số đo huyết áp, nhịp tim
    Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng
    Tình trạng ăn ngủ, đại tiểu tiện của bệnh nhân hàng ngày

2. Đo kinh lạc để xác định công năng của phủ tạng

Việc đo kinh lạc để chẩn bệnh, tức là dùng máy đo nhiệt độ mặt da đo nhiệt độ ở Tỉnh huyệt và các vị trí thay thế Tỉnh huyệt (trên 10 đầu ngón chân, ngón tay) bằng thiết bị Đo nhiệt độ kinh lạc có thể chẩn đoán cụ thể, chi tiết tình trạng của từng đường kinh, tạng phủ, từng phần của cơ thể con người từ nông đến sâu như: Biểu- Lý, Khí- Huyết ở các mức độ Hàn- Nhiệt, Thực – Hư, Thịnh – Suy…, trạng thái sức khoẻ và các bệnh tật không chỉ của các cơ quan nội tạng, mà cả với các bệnh thuộc thần kinh trung ương.

3. Chẩn đoán theo tứ chẩn để đánh giá tình trạng của bệnh theo bát cương

Tổng hợp tất cả các kết quả trên để xác định tình trạng bệnh tật theo quy luật sinh học, tìm ra căn nguyên, tác nhân chính gây ra u não dựa vào thói quen sinh hoạt, lao động nghề nghiệp, vệ sinh cá nhân, môi trường sinh sống…

4. Lập đơn thuốc theo phương Kỳ Môn Y Pháp

Ra đơn, điều thuốc theo phương Kỳ Môn Y Pháp đảm bảo giải quyết toàn bộ các rối loạn đang xảy ra đối với bệnh nhân trong các hoạt động tiêu hóa, nội tiết, tuần hoàn, hô hấp, huyết áp, nhịp tim, thần kinh, công thức máu, nước tiểu, các chức năng của phủ tạng và các biểu hiện đặc biệt khác về mặt lâm sàng.

5. Ứng dụng châm cứu Thần Châm

Châm cứu sử dụng nguyên tắc Thần Châm để đưa máu lên não theo quy luật tự nhiên, chống co thắt cục bộ cơ cổ gáy, giúp mở rộng động mạch cảnh phía sau gáy để máu lên não một cách thuận lợi. Các huyệt để châm bao gồm:

    Ấn Đường
    Thái Dương
    Tứ Thần Thông
    Đại Trùy
    Phong Môn
    Cảnh Trung
    Trung Phong

Chú ý:

Huyệt Cảnh Trung do chính bản môn phát hiện chuyên dùng để chống co thắt cơ cổ gây ách tắc lưu thông máu lên não. Huyệt này nằm ở giữa cổ phía sau gáy, lấy huyệt bằng cách nối huyệt Á Môn và Đại Trùy lấy điểm giữa vẽ đường vuông góc ngang cơ cổ gáy sang hai bên khi gặp khe cơ từ chân tóc xuống là đúng hai huyệt Cảnh Trung. Huyệt Trung Phong cũng do bản môn phát hiện là điểm giữa hai huyệt Ế Phong và Phong Trì.

Hai huyệt Cảnh Trung và Trung Phong khi châm có khả năng đưa máu lên não một cách xung mãn, có thể chống được sự thoái hóa và thoát vị các đốt sống cổ. Sau đó có thể dùng máy điện châm kích thích các huyệt này với tần số và cường độ thích hợp với từng người bệnh. Nên dùng bổ ở các huyệt Thái Dương và Tứ Thần Thông, tả ở huyệt Cảnh Trung và Phong Môn, không kích điện ở huyệt Trung Phong. Cần lưu kim khoảng 45 đến 60 phút để đạt được hiệu quả tối ưu cho việc châm cứu đưa máu lên não. Bệnh nhân hoàn toàn có thể hết cơn đau đầu. Cơn động kinh có thể được khống chế.

6. Phối hợp với các phương pháp chữa trị Nam Y khác

Các biện pháp điều trị cần thiết khác như xoa bóp, bấm huyệt, khí công, dưỡng sinh cần được phối hợp với việc uống thuốc và châm cứu một cách đều đặn, thường xuyên xen kẽ giữa các ngày châm cứu “cách nhật” (châm cứu cách 2 ngày một lần).

7. Phối hợp dùng Linh đan Thiềm Ô Châu

Các bệnh nhân ung thư não được chỉ định sử dụng Linh Đan Thiềm Ô Châu với liều từ 4 – 6gr một ngày tương đương với 8 đến 12 viên 500mg một ngày.

8. Nhân sâm Ngọc Linh

Nếu bệnh nhân có điều kiện kinh tế có thể dùng thêm 20gr Nhân sâm Ngọc Linh một ngày để tằng cường sức khỏe và nâng cao hệ miễn dịch, giúp việc điều trị có kết quả tốt và nhanh chóng hơn.

9. Các yêu cầu khác

Yêu cầu bệnh nhân khắc phục thói quen sinh hoạt không có lợi cho sức khỏe dẫn tới rối loạn tắc nghẽn lưu thông đưa máu lên não, nhất là tránh bị co rút cơ cổ phía sau gáy, nguyên nhân gây ra chứng thoái hóa đốt sống cổ và rối loạn thiếu máu não, đau đầu… Ví dụ như:

    Người lớn ngồi làm việc trước máy tính quá lâu hay trẻ em chơi trò chơi điện tử trong nhiều giờ.
    Người sức khỏe yếu mà ngủ gối cao, gối cứng.
    Những người làm các công việc có tính chất phải ngồi thấp lâu, sau đó đứng dậy hay bị thiếu máu lên não.
Read more…

Chữa bệnh ung thư lưỡi

Ung thư lưỡi là một trong những loại ung thư thường gặp nhất ở vùng miệng và lưỡi. Ban đầu, bệnh không có biểu hiện rõ ràng nên rất dễ bị xem nhẹ.

Những ai dễ mắc bị ung thư lưỡi?

Có một thực tế là, đàn ông dễ bị ung thư lưỡi và các bệnh lý về lưỡi khác hơn phụ nữ. Lý do muôn thuở vẫn là rượu và thuốc lá. Theo số liệu ước tính của Pháp, có tới 80-90% ca ung thư lưỡi có liên quan đến thuốc lá và rượu.

Ngoài ra, chúng ta vẫn có nguy cơ mắc ung thư lưỡi (dù không sử dụng thuốc lá hay rượu bia) nếu vệ sinh răng miệng không được đảm bảo.

Tầng lớp trung niên (40-66 tuổi) dễ mắc loại ung thư này hơn những người khác.

Biểu hiện của ung thư lưỡi như thế nào?

Biểu hiện thường thấy của bệnh ung thư lưỡi là những vết loét lâu ngày, màu trắng hoặc đỏ ở hai bên lưỡi, có thể hơi đau hoặc không đau. Ngoài ra, nếu cảm thấy khó khăn trong quá trình chuyển động của lưỡi khi nói, nhai, ho,…; ngứa hoặc đau rát lưỡi khi uống rượu hoặc ăn các loại thức ăn có tính axit, cay; hôi miệng; chảy máu lưỡi; đau tai;… thì hãy đến gặp bác sĩ ngay để được khám và điều trị kịp thời.

Phòng tránh bệnh ung thư lưỡi bằng cách nào?
- Vệ sinh răng miệng đều đặn, thường xuyên.
- Sử dụng nước súc miệng chuyên dụng hoặc nước muối để súc miệng ngừa sâu răng và nhiễm trùng nướu răng.
- Hạn chế rượu, đồ uống có cồn và thuốc lá.
- Cuối cùng, nếu thấy vết loét lâu ngày không khỏi, và đặc biệt là có sự hiện diện của các khối u hạch bất thường ở cổ thì phải đến khám bác sĩ ngay.

Chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư lưỡi

Việc chẩn đoán ung thư lưỡi dựa trên kết quả sinh thiết vùng bị tổn thương trên lưỡi.

Nếu phát hiện sớm, bệnh nhân có thể được điều trị bằng các phương pháp đơn giản như súc miệng bằng dung dịch Chlorhexidine gluconate 0,2%, bôi thuốc và uống các loại thuốc kháng viêm.
Nếu phát hiện muộn, bệnh nhân buộc phải phẫu thuật triệt căn (cắt bỏ một phần lưỡi hoặc toàn bộ lưỡi, tuỳ theo kích thước và vị trí khối u) và được hỗ trợ trị xạ.

Quá trình chăm sóc, điều trị hậu phẫu khá phức tạp vì ung thư lưỡi có nguy cơ tái phát và biến chứng rất cao. Hơn nữa, giống như các loại ung thư khác, bệnh ung thư lưỡi có thể di căn đến phổi, gan hoặc xương,…
Read more…

Liệu pháp mới chữa bệnh ung thư vú

Tỷ lệ phụ nữ phương Tây có khă năng mắc ung thư vú là 8:1, tại Nhật Bản tỷ lệ là 25:1.

Những năm gần đây tỷ lệ bệnh nhân mắc ung thư vú trên toàn thế giới tăng rất cao. Báo cáo tổng kết cho thấy trên thế giới cứ mỗi 3 phút thì có 1 phụ nữ bị mắc ung thư vú. cứ mỗi 13 phút lại có một phụ nữ chết do ung thư vú.

Theo giới thiệu của Giáo sư Lưu Viện Sinh, chuyên gia của bệnh viện Ung bướu hiện đại Quảng Châu, trước đây sau khi bệnh nhân ung thư vú làm phẫu thuật cắt bỏ khối u sẽ để lại một vết cắt lớn, một bên ngực sẽ không còn. Ở vị trí một bác sĩ phải chứng kiến điều đó bản thân tôi cảm thấy rất thương cảm cho bệnh nhân.

Hiện nay có khá nhiều bệnh nhân ung thư vú do lơ sợ phải phẫu thuật cắt bỏ ngực nên đã không dám đi điều trị, chính tâm lý lo sợ này đã làm cho bệnh nhân mất đi cơ hội được điều trị, đây là một điều rất đáng tiếc. Các chuyên gia khuyên bạn rằng hiện nay điều trị ung thư vú không nhất thiết phải phẫu thuật cắt bỏ ngực, các bạn nên có thái độ tích cực đối diện với bệnh tật, hãy lạc quan để tự mang lại cho bản thân cơ hội được điều trị.

Tuy nhiên phẫu thuật bảo tồn ngực yêu cầu lại cao hơn phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn rất nhiều, tưởng chừng phẫu thuật bảo tồn ngực chỉ cần cắt bỏ một phần ngực thôi, nhưng sau khi phẫu thuật cắt bỏ phần đó thì cần phải đảm bảo bề ngoài của khuôn ngực, ngoài ra trong quá trình tiến hành phẫu thuật cần phải làm sinh thiết để chẩn đoán xem còn sót lại tế bào ung thư không. Phẫu thuật bảo tồn phức tạp hơn phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn rất nhiều, hình thức phẫu thuật này yêu cầu bác sĩ phải có kinh nghiệm thực tế dày dặn mới có thể đảm bảo hiệu quả điều trị.

Có rất nhiều bệnh nhân ung thư vú giai đoạn cuối đã điều trị hoá chất nhiều đợt, thậm chí có những bệnh nhân đã có hiện tượng di căn bệnh tình khá năng, đã bị nhờn với hoá chất sử dụng, chúng tôi có thể lựa chọn những hoá chất phù hợp và nhẹ nhàng hơn cho bệnh nhân, hoặc sử dụng thuốc điều trị nội tiết, ví dụ như Aromatase ức chế enzyme thế hệ thứ 3, đều mang lại hiệu quả rất tốt, ngoài ra còn kết hợp thêm những liệu pháp điều trị di căn xương, có những bệnh nhân có thể sống được rất nhiều năm, không còn hoang mang lo lắng tiêu cực về tái phát hay di căn, hiện nay ung thư có thể trở thành một căn bệnh mãn tính, bệnh nhân ung thư có thể sống bình thường với khối u trong cơ thể. Có một bệnh nhân người Indonesia bị ung thư vú đã 6 năm và cách đây 1 năm bị di căn xương nhưng hiện tại bệnh nhân vẫn sống rất khoẻ mạnh.

Cuối cùng Giáo sư Lưu Viện Sinh còn nói thêm thực nghiệm lâm sàng quy mô lớn của bệnh viện Ung bướu hiện đại Quảng Châu đã chứng minh rằng bệnh nhân ung thư vú bị taáiphát và di căn sau 5 – 10 năm phẫu thuật bảo tồn + xạ trị so với bệnh nhân điều trị bằng phương pháp phẫu thuật truyền thống thống kê cho thấy không có sự khác biệt, vì vậy chỉ cần nắm rõ tình trạng bệnh, bác sĩ có kinh nghiệm điều trị bệnh nhân có thể an tâm tiếp nhận điều trị phẫu thuật bảo tồn ngực./.
Read more…