chữa bệnh ung thư tiền liệt tuyến

Tỉ lệ điều trị khỏi bệnh của ung thư TTL phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn phát hiện bệnh. Với những trường hợp ung thư còn ở giai đoạn khu trú, khoảng 70-85% bệnh nhân sống đến 10 năm sau khi khi được điều trị triệt để.

Các trường hợp ung thư xâm lấn ngoài vỏ bao vi thể, tỷ lệ sống sau 5 năm là 85%, sau 10 năm là 75%. Trong khi đó, với những trường hợp ung thư xâm lấn bao tuyến lan rộng, tỷ lệ sống sau 5 năm là 70%, sau  10 năm là 40%. Do đó, chẩn đoán bệnh sớm sẽ cải thiện tiên lượng sống của bệnh nhân.

Tùy theo trường hợp, bệnh nhân sẽ được chỉ định điều trị bằng một trong các phương pháp điều trị sau : phẫu thuật, điều trị nội tiết hoặc xạ trị.

Phẫu thuật:phẫu thuật cắt bỏ tất cả toàn bộ TLT tận gốc và nạo hạch chậu để lấy bướu khỏi cơ thể, áp dụng trong những trường hợp bệnh nhân đến sớm và bệnh nhân còn đủ sức chịu đựng cuộc mổ. Hiện nay, ở TP.HCM bệnh nhân có thể lựa chọn một trong hai phương pháp mổ: mổ  hở ( tức là cắt bỏ bướu thông qua một đường rạch da trên bụng) hoặc là mổ qua nội soi ổ bụng. Phương pháp mổ qua nội soi ổ bụng  hiện đại hơn, bệnh nhân không phải bị rạch da, không có vết mổ dài, ít biến chứng hơn nhưng tốn kém hơn vì phải thực hiện ở các trung tâm y tế lớn và do các bác sĩ có nhiều kinh nghiệm thực hiện.

Phương pháp cắt bỏ TLT tận gốc có thể gây ra một số biến chứng như rối loạn cương (liệt dương), tiểu không kiểm soát, hẹp cổ bàng quang và rò nước tiểu. Phẫu thuật nạo hạch chậu thì có thể để lại những biến chứng như tụ dịch bạch huyết, thuyên tắc tĩnh mạch sâu hay thuyên tắc phổi.

Xạ trị:phương pháp này được dùng để điều trị ung thư TLT khi bướu còn tại chỗ, chưa di căn hạch hoặc chưa di căn xa. Có thể dùng xạ trị cho bệnh nhân ở mọi độ tuổi, cho những trường hợp có chống chỉ định phẫu thuật vì lý do bệnh lý hoặc cho những bệnh nhân không muốn phẫu thuật. Tùy từng trường hợp cụ thể, các bác sĩ sẽ chỉ định điều trị các dạng điều trị xạ trị khác nhau. Ngoài ra, xạ trị cũng có thể dung để hỗ trợ sau phẫu thuật.

Điều trị nội tiết: Là phương pháp dùng thuốc chống lại sự hoạt động của  chất Androgen(nội tiết tố nam) và sự tăng sinh của TLT, bao gồm nội tiết tố và những chất không phải nội tiết tố. Các dạng điều trị nội tiết tố bao gồm :Cắt tinh hoàn, dùng chất kháng nội tiết tố nam, chất ức chế tổng hợp nội tiết nam. Phương pháp điều trị nội tiết được xem là tiêu chuẩn vàng cho ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn tiến triển. Khi điều trị nội tiết liên tục, các tác dụng phụ của liệu pháp sẽ cùng tăng theo nếu kéo dài thời gian điều trị.



Điều trị hóa chất: Điều trị hóa chất trong ung thư TLT  không phải là biện pháp bước đầu được các bác sĩ chuyên khoa lựa chọn vì loại ung thư này thường rất nhạy với nội tiết tố. Tuy nhiên vì tính chất không đồng nhất trong khối u nên độ nhạy của ung thư ở từng cá thể là rất khác nhau và luôn dẫn đến tình trạng kháng nội tiết nhưng đều có thể xử trí chung là phải tiếp tục điều trị với hóa chất. Mục đích của điều trị hóa chất trong ung thư TLT  kháng nội tiết là kéo dài thời gian sống của bệnh nhân, trì hoãn diễn tiến bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống (làm giảm đau nhức do ung thư di căn gây ra) .

Các phương pháp điều trị khác: Gần đây, người ta cũng có đề xuất một số phương pháp khác như đông băng (cryosurgery), đốt cao tần (HIFU), nhưng tất cả đều đang ở trong giai đoạn thí nghiệm, chưa có bằng chứng khoa học chính xác. Hiệu quả của các phương pháp này chỉ là giảm kích thước khối u một cách tạm bợ chứ không điều trị ngay vào tính chất ung thư cua bướu. Các phương pháp này hiện đang chờ đợi kết luận chính xác từ các nước phát triển trên những bệnh nhân tình nguyện.

Biện pháp phòng ngừa:

- Test phát hiện sớm + SA định kỳ để phát hiện sớm bệnh.

- Tránh ăn mỡ động vật mà thay bằng dầu ăn thực vật.

- Tránh tiếp xúc với các chất hóa học.

- Không dùng các thuốc hoocmon bừa bãi.

- Đậu nành và trà giúp bảo vệ tuyến tiền liệt.

Hai thực phẩm này có thể giúp ngăn ngừa sự phát triển ung thư vú ở phụ nữ và KTLT ở nam giới. Hiệu quả sẽ tăng hơn nếu dùng phối hợp cả trà và đậu nành.

Trên thực tế người Trung Quốc do có thói quen dùng trà và đậu nành, tỷ lệ người mắc bệnh KTLT ở Trung Quốc rất thấp.